Thống Kê
Hiện có 2 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 2 Khách viếng thăm

Không

[ View the whole list ]


Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 60 người, vào ngày Sat Jun 02, 2012 10:53 pm
Latest topics
» 20 - 11 - 2016
Sat Nov 19, 2016 4:25 pm by TLT

» Những tình khúc vượt thời gian
Wed Nov 16, 2016 1:17 am by phannguyenquoctu

» hãy trả lời em....
Wed Nov 09, 2016 12:40 pm by phannguyenquoctu

» Khế
Tue Nov 08, 2016 11:38 pm by phannguyenquoctu

» Vật lý phổ thông - web hay
Sat Nov 05, 2016 9:03 pm by phannguyenquoctu

» Thầy Ngoạn Cô Hoa
Fri Nov 04, 2016 1:05 pm by phannguyenquoctu

» Kỹ năng cho trẻ
Mon Oct 24, 2016 10:25 am by phannguyenquoctu

» 87TuNghia thăm mẹ bạn Phan Văn Hồng
Tue Oct 04, 2016 10:18 am by TLT

» Cáo phó (28/9/2016) ông Già bạn Nhật qua đời
Tue Oct 04, 2016 10:11 am by TLT

» Cáo phó: Mẹ bạn Lê Tuấn Phát C5 qua đời 18/9/2016
Wed Sep 28, 2016 4:54 pm by TLT

» Phim hành động, võ thuật tổng hợp
Wed Sep 28, 2016 12:39 am by phannguyenquoctu

» Cáo phó: Cha vợ của Phan Nguyễn Quốc Tú qua đời 15/9/2016
Sun Sep 18, 2016 11:18 am by TLT

» Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Wed Sep 14, 2016 12:43 am by phannguyenquoctu

» Khai giảng 2016 - 2017
Wed Sep 07, 2016 4:14 pm by TLT

» Cáo phó (25/7/2016): Cụ Ông cha của bạn Lê Văn Giàu qua đời
Wed Jul 27, 2016 9:57 am by TLT

» Bạn Phan Tấn Hoàng mãi ở lại trong lòng gia đình, người thân, của 87TuNghia và bạn bè thân hữu
Sat Jul 23, 2016 4:01 pm by phannguyenquoctu

» Phương pháp học tập siêu tốc
Wed Jun 29, 2016 10:43 am by phannguyenquoctu

» Mạc Đĩnh Chi
Mon Jun 27, 2016 10:18 pm by phannguyenquoctu

» 4 cách tự kiểm tra sức khỏe tại nhà chỉ mất một phút
Fri Jun 24, 2016 2:52 pm by phannguyenquoctu

» Kỹ năng tổng hợp
Sun Jun 12, 2016 9:53 pm by phannguyenquoctu

» Clip những bức ảnh biết chuyển động kỳ diệu
Sun Jun 05, 2016 3:59 am by phannguyenquoctu

» Điều gì xảy ra nếu bạn ăn hoa chuối
Sat Jun 04, 2016 8:19 pm by phannguyenquoctu

» Tự chữa tiểu đường từ lời một chân tu: Bạn có đoán được tên phương pháp này?
Tue May 31, 2016 12:03 pm by phannguyenquoctu

» Phan Nguyễn Quốc Tú - Hè 2014
Fri May 27, 2016 3:14 pm by TLT

» Bế giảng năm học 2015-2016
Fri May 27, 2016 3:06 pm by TLT

Top posting users this week

Top posting users this month

Top posters
phannguyenquoctu (6171)
 
TLT (2016)
 
letansi (1008)
 
le huu sang (320)
 
lamkhoikhoi (299)
 
pthoang (257)
 
luck (220)
 
sóng cát trùng dương (209)
 
hatinhve (181)
 
Admin (156)
 

December 2016
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031 

Calendar Calendar


Thầy Trần Hoài Anh

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Thầy Trần Hoài Anh

Bài gửi  phannguyenquoctu on Thu Jan 03, 2013 8:31 pm

Danh sách các tác giả đã được xét kết nạp
vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 2012


22-12-2012 05:38:47 PM

VanVN.Net – Trong phiên họp ngày 22/12/2012, Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam đã tiến hành bỏ phiếu xét kết nạp hội viên mới theo danh sách do các Hội đồng chuyên môn đề cử. Kết quả: đã có 25 tác giả được xét kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 2012. VanVN.Net xin gửi lời chúc mừng các tân hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Dưới đây là danh sách kèm theo được xếp theo chuyên ngành mà các tác giả đăng ký.

Văn xuôi:
1, Trần Thiện Lục (Phương Yến – Phú Yên)
2, Nguyễn Quang (Hà Giang)
3, Lại Văn Long (TP Hồ Chí Minh)
4, Vũ Minh Nguyệt (Hà Nội)
5, Đoàn Ngọc Minh (Cao Bằng)
6, Đào Bá Đoàn (Hà Nội)
7, Nguyễn Thanh Hương (Lâm Đồng)
8, Lương Văn (Hà Nội)
9, Võ Diệu Thanh (An Giang)
10, Thăng Sắc (Hà Nội).

Thơ:
1, Nguyễn Thị Vân Anh (Nghệ An)
2, Đinh Long (Hà Nội)
3, Trịnh Công Lộc (Quảng Ninh)
4, Lương Vĩnh (Hà Nội)
5, Đàm Khánh Phương (Hà Nội)
6, Bùi Công Minh (Đà Nẵng)
7, Văn Trọng Hùng (Bình Định)
8, Lương Tử Đức (Hà Nội)
9, Lê Va (Hòa Bình)
10, Đỗ Doãn Phương (Hà Nội).

Lý luận phê bình:
1, Trần Mạnh Tiến (Hà Nội)
2, Trần Hoài Anh (TP Hồ Chí Minh)
3, Phùng Quý Nhâm (TP Hồ Chí Minh).

Dịch văn học:
1, Vũ Phong Tạo (Hà Nội)
2, Nguyễn Văn Thái (định cư tại Ba Lan).




Nguyễn Tiến Lộc-Thái Hà. Hà Nội lúc 22-12-2012 08:24:19 PM

Rất hoan nghênh đợt kết nạp hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam năm 2012. Căn cứ vào những điều tôi nắm được qua quen biết và đọc tác phẩm của những tác giả được kết nạp vào Hội Nhà Văn Việt Nam năm 2012, tôi thấy, những người được kết nạp năm nay là xứng đáng.

Ban chấp hành Hội đã làm việc nghiêm túc, công minh.


http://www.vanvn.net/news/1/2918-danh-sach-cac-tac-gia-da-duoc-xet-ket-nap-vao-hoi-nha-van-viet-nam-nam-2012.html

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thầy Trần Hoài Anh

Bài gửi  phannguyenquoctu on Thu Jan 03, 2013 8:45 pm

Xin chúc mừng Thầy Hoài Anh.


phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thầy Trần Hoài Anh

Bài gửi  phannguyenquoctu on Thu Jan 03, 2013 9:30 pm










20 tháng 11 2012

Thật tiếc là 20 tháng 11 năm nay, thời gian ít nên mấy anh em 87SG
không kịp thăm Thầy, như năm rồi.
(lên Quận 12, vui quá, ngồi mãi, ngồi mãi đến tận khuya...)


phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thầy Trần Hoài Anh

Bài gửi  phannguyenquoctu on Thu Jan 03, 2013 10:32 pm

Tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du


Nhà phê bình Trần Hoài Anh

NVTPHCM- Trong tập thơ Điêu tàn, nhà thơ Chế Lan Viên đã từng đặt ra một vấn đề mang tính bản thể luận với câu hỏi chứa đầy tâm thức hiện sinh:

Mà phải đâu đã đến ngày tiêu diệt!
Ai bảo giùm: Ta có, có ta không?


Câu hỏi của nhà thơ Chế Lan Viên ngày ấy mãi mãi là điều tự vấn mà không phải dễ gì tìm thấy câu trả lời trong cõi nhân gian này. Chính vì thế, không chỉ có Chế Lan Viên, mà còn biết bao nhà thơ khác đã đặt ra trong thơ mình những câu hỏi có tính triết luận như một tâm thức hiện sinh về sự hiện hữu của chính mình, trong đó có nhà thơ Cát Du, một phụ nữ Nam Bộ* vốn không phải là một vùng văn hóa với những con người mạnh về tư duy tư biện. Vậy mà ở Cát Du, ta lại thấy điều ấy hiện hữu trong thơ như một giọng điệu riêng.
Ta hãy nghe nhà thơ tự bạch:

Nàng bé tẹo
Tuổi chất cao hơn nàng
Vậy mà
Nàng biết đặt những câu hỏi của nhân loại
Ta từ đâu tới?
Tới để làm gì?
Ta sẽ về đâu?
(Nàng)

Quả thật, cũng như Chế Lan Viên, những câu hỏi trong thơ Cát Du là những vấn đề mang tính bản thể luận, luôn tồn tại như ám ảnh của một tâm thức hiện sinh mà tác giả cứ mãi đi tìm như đi tìm cái Tôi bản thể của mình. Đó là một cái Tôi vừa thực lại vừa ảo, vừa có lại vừa không, vừa gần gũi lại vừa xa xôi như một thứ ảo giác, nên khi nhìn vào gương, một chiếc gương cũng được làm bằng ảo giác của mộng mị vô thường, nhà thơ đã hoài nghi chính sự hiện hữu của mình:

Em đang làm gì?
Soi gương
Soi gương tìm gì?
Tìm em
Em sao?
(Ủa, lạ nào!)

Chính vì vậy, cho dẫu nhà thơ đã hóa thân thành nhiều cái tôi hiện sinh khác nhau: Có khi giống “nàng Nguyệt Nga mặc đồ cổ trang và ngồi trên xe ngựa liếc tình với Lục Vân Tiên”. Có khi lại “thấy mình giống công chức mặc áo cổ cồn và có đeo ve / công chức mặt nghiêm không hé môi cười”. Có khi lại “thấy mình đang gặt hái trên cánh đồng lúa / êm ả cò bay”... Nhưng rồi, tất cả những sự hóa thân này cũng chỉ là hư ảo. Bởi chính em cũng chỉ là ảo ảnh của em, nên những sự hóa thân này cũng chỉ là sự hóa thân của những ảo ảnh.

Màn nhung khép lại
Thế em đâu rồi?
Không biết
(Ủa! lạ nào!)

Tuy nhiên, chính sự hóa thân này đã tạo nên bầu khí quyển hiện sinh trong thơ Cát Du. Đó là một thế giới hiện sinh đầy hư - thực. Thế giới ấy đã đem đến cho người đọc những liên tưởng thú vị, bất ngờ khi đắm mình trong cõi thơ đầy ma mị của Cát Du, một cõi thơ đầy chất phiêu bồng vốn là một yếu tính của thơ. Bởi nói như thi sĩ Bùi Giáng “cõi thơ là cõi bồng phiêu”. Và cõi bồng phiêu trong thơ Cát Du như một ẩn số đầy huyễn hoặc mà thi nhân cứ mãi đi tìm, như đi tìm bản thể của mình nhưng chẳng bao giờ có lời giải đáp. Bởi khi “Soi gương chỉ thấy cuộc đời” mà đó chỉ là “những cuộc đời không em”.

Có thể nói, sự bất lực trong hành trình tìm kiếm chính mình là một tâm trạng điển hình của tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du. Câu hỏi tồn tại hay không tồn tại mãi ám ảnh trong suy tư của loài người dù là phương Đông hay phương Tây. Để rồi, trong hành trình tìm kiếm cái bản thể ấy, con người có khi lại bắt gặp ảo ảnh của mình, trở thành “kẻ xa lạ” với chính mình. Và cái điều mâu thuẩn tưởng chừng phi lí ấy lại là một điều hoàn toàn có lý được biểu hiện sinh động trong tâm thức hiện sinh ở thơ Cát Du

Em ngắm anh mỗi ngày
Mà sao bỗng lạ?
Những tế bào yêu của ngày hôm qua đã chết
Cuốn đi nụ hôn nồng của em
Đôi môi mới của ngày hôm nay lạnh lùng, thờ ơ quá thể

Em nhìn thấy người đàn bà hệt em
Trong mắt anh lạ lẫm
Em của ngày qua đâu rồi?
Đâu rồi anh?
Anh của ngày qua đâu rồi?
(Lạ hoắc)


Triết gia Héraclite đã khẳng định: “Không ai có thể tắm hai lần trên cùng dòng sông”. Vì vậy, cũng không có ai sống hai lần trong một khoảnh khắc của cuộc đời. Mọi việc trong cõi nhân sinh này vẫn trôi đi lặng lẽ, vẫn cứ tuần hoàn theo quy luật tự nhiên. Và con người không thể nào thoát khỏi cái qui luật “sinh lão bệnh tử” mà Đức Phật đã chỉ ra. Cái tâm thức hiện sinh này ta cũng cảm nhận được từ trong thơ của Cát Du.

Người đàn ông nhìn tôi
Cái nhìn lạ hoắc
Cắm vào đêm lạ hoắc
Môi chụm môi lạ hoắc
Cái nồng nàn mới toanh
Lại bắt đầu
(Lạ hoắc)

Để rồi từ sự “bắt đầu”, con người lại hành trình đến một “kết thúc” trong vòng quay của sự sống và cái chết, của hiện hữu và hư vô, của hữu hạn và vô hạn của kiếp nhân sinh giữa cõi vô thường. Và đó cũng là hành trình của tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du.

Sáng nay có người mẹ qua đời
Mặt trời rựng lên rồi tắt
Tôi thấy dòng người như đi về nơi tẩm liệm
Hàng cây bên đường cũng buồn thiu
Gió lặng im
như khóc
Có tiếng nấc chồi non
trong cành gãy
Mẹ ơi!
Mẹ!
(Mẹ ơi!)

Mặt khác, cuộc hành trình của tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du còn được biểu hiện ở khát vọng nhục cảm tinh khiết được chưng cất từ sự hiện hữu của hai thực thể CON và NGƯỜI mà Cát Du không hề lẫn tránh, không cao đạo nhưng cũng không buông tuồng suồng sả trước những tiếng gọi đầy chất hiện sinh này. Vì thế, những khát vọng nhục cảm trong thơ Cát Du không rơi vào thế giới của sự tầm thường, không dẫn dụ người đọc vào những thèm khát bản năng, trái lại nó đưa người đọc vào thế giới của sự thăng hoa, của những sáng tạo đầy khát vọng hiện sinh

Gương mặt vừa được hôn ngày hôm qua
thức dậy
vẫn còn mơ
Mắt em anh ánh
Môi em nồng nồng
Vòng tay âm ấm
Vẫn còn đâu đây
Thế mà người đã xa khơi
Người mang vòng tay của em đi đâu?
Bỏ mặc em trong cõi người giá lạnh này!
Hãy siết em lần nữa
Siết em lần nữa đi nào
Siết!
(Hãy siết em lần nữa)

Quả thật, tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du là tiếng gọi thẳm sâu từ cõi vô thức. Đó là một vô thức tiềm ẩn trong ý thức vô ngôn

Người đàn ông của cỏ
Gặp người đàn bà của cỏ
Xoắn vào nhau
Tung xòe
Quên mất gió đông
(Người đàn ông của cỏ)

Và chính cái tâm thức hiện sinh này đã trở thành một cảm hứng sáng tạo được thể hiện trong khá nhiều bài thơ của Cát Du như: Thoát, Mơ, Đen, Nhìn, Va tình, Thắp lửa, Lửa, Trăng lu, Người đàn bà soi gương, Khiết, Rời khỏi giấc mơ, Rơi… Nó là một phần không thể thiếu trong thế giới nghệ thuật và tư duy thơ của Cát Du. Nó như một thứ nhan sắc trong bút pháp thơ của chị để từ đó định hình một phong cách thơ Cát Du trong dòng chảy của thơ Việt đương đại. Và đây cũng là tiền đề hình thành cõi thơ Cát Du, cõi thơ của một người phụ nữ mang đầy khát vọng hiện sinh như một thứ căn cước minh chứng cho sự hiện hữu của mình giữa cuộc đời. Và đây là một thông điệp đầy tính nhân văn của tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du.

Có thể nói một điều khá độc đáo cũng được thể hiện trong tâm thức hiện sinh ở thơ Cát Du đó là sự kết hợp hài hòa giữa tư tưởng hiện sinh với tư tưởng thiền học qua thế giới nghệ thuật thơ với những hình tượng thơ đầy hư - thực. Cái cảm thức sắc - không ấy như một ám ảnh của vô thức và tâm linh đã tạo nên cho thơ Cát Du một giá trị mới đó là giá trị của sự hợp lưu giữa hai nền triết học Tây - Đông mà ta có thể tìm thấy trong nhiều bài thơ của Cát Du:

Em ở đâu?
Em ở đâu?
Em ngồi trong hốc mắt
Em ngồi trong hốc mắt làm gì?
Em làm gì?
Em nhìn
Em nhìn gì?
Nhìn em
Em thấy gì?
Chả thấy
Sáng trưng em chả thấy!
Chả thấy!
(Nhìn)

Hay :

Không đánh động gì cả
Chỉ có gió khẽ khàng
Làm
Lá bàng lay, lá bàng lay
Ôi!
Lá vàng sắp rụng
Lá biết
Sự đánh động của gió
Nhẹ nhàng thôi
Nhưng thời gian thở gấp
Lá đi
Lá đi trong chiều
nhẹ tênh
Có gió
Rù rì…
(Rơi)

Và từ trong sự đốn ngộ về tư duy triết học của chủ nghĩa hiện sinh và thiền học, Cát Du đã nhận ra nỗi đau của phận người, một nỗi đau luôn đồng hành cùng với sự hiện hữu của con người trần thế như một tất yếu mà con người không thể phủ nhận.

Là người
Không có nỗi đau sao được
Em không tin đâu!
Không tin
(Cát)

Vì nhận rõ được nỗi đau và sự gới hạn tất yếu của sự mong manh phận người nên tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du còn thể hiện ở một thái độ sống tận hiến trong từng sát na của cảm xúc và đam mê. Và chính xuất phát từ tâm thức hiện sinh này mà sự cảm nhận về tình yêu trong thơ Cát Du cũng nhuốm màu sắc hiện sinh

Không mùi vị gì cả
Chỉ vòng ôm là thực
Siết chặt là thực
Giãy giụa là thực
…………..
Rơi tõm vào
Cơn cuồng nhiệt
yêu.
(Ám ảnh màu chì)

Có lẽ, vì thế chăng mà thi nhân đã thú nhận những điều mà người ta cứ mãi che đậy bằng những bài học luân lý đạo đức đầy giả tạo, tởm lợm đến buồn nôn với những bằng “tiết hạnh khả phong” mà nhà văn thiên tài Vũ Trọng Phụng đã từng vạch trần và lên án trong tiểu thuyết Số đỏ nổi tiếng của mình. Điều này đã tạo nên một giá trị riêng trong thơ Cát Du, giá trị của sự thành thực mang tính NGƯỜI mà không phải ai cũng dám tự thú!? Phải chăng, đây cũng là tiếng nói từ ý thức về nữ quyền vốn chưa phải là điều đã được khẳng định trong thơ Việt.
Ta hãy nghe nhà thơ chia sẻ và thú nhận, một sự thú nhận thật đáng yêu. Bởi vì đó là một sự thú nhận dũng cảm và thành thật mà nói như Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam: “Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm u uất, cái khát vọng được thành thực. Một nỗi khát vọng khẩn thiết đến đau đớn.” (1)

Anh yêu!
Đêm qua có gã trai lạc vào ngôi nhà thiêng của chúng mình
Ngôi nhà em cất giữ tình yêu của anh thật chặt
Vậy mà
Hắn táo tợn
Dám nhìn xoáy vào tình yêu anh bằng cái nhìn thốc lửa
Làm tình yêu nóng ran
Nồng nàn
Thơm phức
Trời ơi!
Làm sao em cưỡng nổi một cơn giông?
Thôi đành để gió cuốn đi
Cuốn đi.
(Thôi đành để gió cuốn đi)

Thật vậy có thể nói, tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du không phải là một vấn đề gì mới mẻ và lạ lẫm trong thơ ca hiện đại Việt Nam. Trước 1975 ta thấy giòng tâm thức hiện sinh ấy đã ngập tràn trong thơ của Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Vũ Hữu Định, Nguyễn Đức Sơn, Du Tử Lê, Tô Thùy Yên, Trần Dạ Từ, Cung Trầm Tưởng, Đinh Trầm Ca… với những câu thơ cũng đầy chất hiện sinh: “ Mười ngón tay sờ soạng giữa hư không / Đôi mắt đã trũng sâu buồn ảo ảnh” (2) Hay “ Anh sẽ còn chạy mãi dưới ngàn sao / Tìm ảo ảnh bay trên bờ bụi cát” (3). Và hiện nay cái tâm thức hiện sinh ấy cũng đang là một dòng chảy trong thơ của các nhà thơ trẻ đương đại như: Ly Hoàng Ly, Vy Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Nguyệt Phạm, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lê Thiếu Nhơn, Đồng Chuông Tử, Trần Tuấn, Tuệ Nguyên, Khánh Phương, Đỗ Doãn Phương…

Sự biểu hiện của tâm thức hiện sinh ở mỗi nhà thơ không bao giờ giống nhau. Nhưng rõ ràng sự hiện hữu của tâm thức hiện sinh trong thơ của các nhà thơ hiện đại và đương đại Việt Nam là một thực thể không thể phủ nhận mà tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du không phải là một ngoại lệ. Có lẽ đây cũng là một xu hướng cho thấy sự tìm tòi, khám phá trong hành trình sáng tạo thơ của Cát Du nói riêng và các nhà thơ trẻ Việt Nam nói chung trong sự nỗ lực để vượt thoát sự sáo mòn công thức và tính đồng phục của thơ ca hiện đại Việt Nam ở một thời chưa xa cũng như sự cố gắng để khẳng định cá tính sáng tạo của họ trong nền thơ ca dân tộc.

Vì vậy, dẫu rằng trong thơ Cát Du không phải không còn những câu thơ chưa đạt đến độ chín của tư duy và chiều sâu của tâm hồn. Nhưng đó là một tất yếu trong hành trình sáng tạo đầy đau đớn của kiếp thi nhân. Song điều ấy chỉ là những bóng mờ trong cõi thơ Cát Du, còn phần sáng trong thơ chị nhìn từ mặt bằng chung của thơ Việt đương đại là đáng ghi nhận.

Và tôi tin rằng, người đọc có thể đồng cảm và chia sẻ với Cát Du những điều ấy để chỉ còn giữ lại trong tâm cảm của mình ý vị mặn nồng như một giá trị để chia sẻ với tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du, một tâm thức hiện sinh được chưng cất từ sự nghiệm sinh của cuộc đời thi nhân và đã bùng cháy thành ngọn lửa trong thơ và trong lòng người đọc khi đến với thơ Cát Du.

Hy vọng rằng, từ tâm thức hiện sinh này, Cát Du sẽ khám phá những chân trời mới trong cõi huyền diệu của thơ ca. Để từ sự hữu hạn của phận người nhà thơ sẽ đi vào sự vô hạn của nghệ thuật. Bởi nói như Saint-John Perse “…Thơ đã có từ khi con người ở trong hang đá, thơ vẫn sẽ có ở thời đại nguyên tử, vì thơ là phần không thể giảm trừ được ở con người”. Và “thế giới này rốt cuộc chỉ còn lại hai thứ, chỉ hai thứ thôi: Thi ca và lòng nhân ái… không còn gì khác” (Cryian Norwid).

Chú thích:
* Cát Du tên thật Phan Kim Dung sinh và lớn lên tại tỉnh Bình Dương.
(1) Hoài Thanh-Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, Nxb. Văn học 2003, tr.18
(2) Thơ Nguyên Sa, Nxb. Thương Yêu, Sài Gòn, 1975, tr.18
(3) Vọng, Thơ Nguyễn Đức Sơn, Nxb. An Tiêm SG, 1972, tr.6

Gò Vấp, ngày 17.3.2011

http://www.nhavantphcm.com.vn/tac-pham-chon-loc/nghien-cuu-phe-binh/tran-hoai-anh-tam-thuc-hien-sinh-trong-tho-cat-du.html




Được sửa bởi phannguyenquoctu ngày Thu Jan 03, 2013 10:41 pm; sửa lần 1.

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thầy Trần Hoài Anh

Bài gửi  phannguyenquoctu on Thu Jan 03, 2013 10:39 pm

CHẠM BÓNG – CHẠM VÀO CÕI NHÂN SINH



Trần Hoài Anh
Quê: Bình Sơn, Quảng Ngãi
Nơi ở: 71/781A Lê Đức Thọ, P.6, Quận Gò Vấp, Tp. HCM
Tiến sĩ – Giảng viên Trường ĐH Văn hoá Tp HCM
Hội viên Hội Nhà văn Tp HCM
Email: anhhoai1108@gmail.com

CHẠM BÓNG – CHẠM VÀO CÕI NHÂN SINH
(Đọc Chạm Bóng – thơ Đinh Tấn Phước – Nxb. Hội Nhà Văn, 2009)

Chế Lan Viên, một thiên tài thơ ca, ngay từ buổi đầu cầm bút làm thơ đã từng lặn sâu vào cõi hư vô của thế giới “Điêu Tàn” * . Nhưng rồi, cũng từ trong cõi hư ảo ấy ông đã quay về với cuộc đời, để cảm nhận ý nghĩa nhân sinh của thơ ca theo cách nói đầy minh triết của Ông:

Dù là Phật/ Thì trước khi ngồi trên tòa sen hư ảo/ Câu thơ cũng phải xuất gia ra bốn cửa ô cuộc đời có thực,/ cuộc đời.
(Sổ Tay Thơ)

Thật vậy, “Thơ đâu phải là con của trang giấy hồng hay trang giấy trắng” (SổTay Thơ, Chế Lan Viên) mà thơ chính là “con đẻ” của đời. Chạm Bóng của Đinh Tấn Phước là thơ đi ra từ cuộc đời, từ sự nghiệm sinh của chính anh trong cõi nhân gian này. Đến với Chạm Bóng, tưởng chừng người đọc sẽ đắm mình trong những ảo ảnh, hư hao của chiếc bóng cuộc đời. Nhưng không, thế giới thơ của Chạm Bóng là thế giới thơ nhuần thấm cõi nhân sinh. Đó là “mùa cỏ chín/ đốt lòng tro mục” để “bóng cỏ/ soi mình”; đó là một “Nẻo Chơi” mà ở đó cái chết cũng là một thực thể của đời sống. “Đêm nay/ ngủ với mộ bia/ chợt nghe/ như đã xa lìa thế gian”; là một “Ngày Đông”; một “Bến Đợi”; một “Ngọ Môn”; một “Bóng Chân Cầu”; một “Lối Sen”; một “Trăng Qui Nhơn”; một “Hà Nội Cũ”; “Thu Hà Nội”; một “Chim Dồng Dộc”; một “Chiều Biển Bắc”; một “Chợ Phiên”…

Chạm Bóng là thi giới của hoài niệm, của tâm thức văn hóa, gắn với những trải nghiệm cuộc đời của thi nhân. Cho nên dù Chạm Bóng có những bài thơ gắn với thế giới của mộng tưởng, của tâm linh, của hư ảo, thì trong tính hiện thực của nó, Chạm Bóng vẫn là thơ của một kiếp nhân sinh giữa cuộc đời trần thế. Vì vậy, dẫu Chạm Bóng có viết về một cõi không nào đó, thì người đọc vẫn cảm nhận được vị mặn của cuộc đời thấm đẫm trong mỗi tế bào của ngôn ngữ thơ.

Thôi em từ giã câu thề/ đành như cánh én bay về/ cõi không.
(Lúc Chết)

Và dù Hà Nội có “sương giăng/ có mùa thu ướt sũng” đầy viễn mơ, thì ta vẫn thấy hiện hữu giữa lòng Hà Nội bóng dáng một “người lữ hành khập khễnh/ giữa Hà Nội mông mênh”. Như vậy, Hà Nội trong Chạm Bóng là một Hà Nội vừa thực lại vừa mộng, vừa hiện hữu lại vừa hư không, vừa gần gũi lại vừa xa xôi, và lấp lánh một thứ ánh sáng của những mỹ cảm làm se siết, lãng đãng hồn người.

Hà Nội ơi!/ sương giăng!/ chút mùa thu để lại/ trọn một nửa cuộc đời/ anh có thời lãng đãng/ em,/ mùa thu xa khơi.
( Thu Hà Nội)

Trịnh Công Sơn trong Nhớ Mùa Thu Hà Nội đã có những ca từ làm xao xác lòng người…:

Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội/ Nhớ đến một người để nhớ mọi người…

Hà Nội, phải chăng là thế đó!? Hà Nội là riêng của mỗi người nhưng cũng là chung của mọi người. Và điều nầy, ta cũng bắt gặp trong những cảm hứng thơ rất đẹp, chứa đầy tâm thức hiện sinh trong Chạm Bóng:

Có một Hà Nội rất cũ/ như bờ đê/ chiều Yên Phụ/ lối mòn gót cỏ/ gánh hàng hoa tan chợ đi về/…/ Có một Hà Nội mùa đông/ những cây bàng đỏ bầm chết rét/ tiếng dương cầm lạnh ngắt/ rơi từng giọt/ khói, / sương…
( Hà Nội Cũ)

Quả thật, bước vào cõi thơ Đinh Tấn Phước trong Chạm Bóng là bước vào cõi nhân sinh diệu kỳ. Thơ anh luôn có lực hút đối với người đọc, như từ trường của sóng điện từ. Ma lực trong thơ anh đầy quyến rũ như một thứ nhan sắc lặng lẽ, nhưng luôn tạo những cơn sóng đam mê nơi người tiếp nhận. Có lẽ đây là hệ quả của chất nhân sinh thấm đẫm trong thơ anh. Và ta sẽ thấy rõ điều nầy khi đọc những câu kết ở các bài thơ trong Chạm Bóng.

Có thể nói sự độc đáo trong thi pháp thơ của Chạm Bóng chính là những câu kết trong các bài thơ luôn có sự dồn nén của hiện thực tâm trạng. Nó luôn gợi cho người đọc những trường liên tưởng mênh mang, thú vị và bất ngờ, tạo cho người đọc khả năng đồng sáng tạo với thi nhân. Bởi cấu trúc trong các câu kết của mỗi bài thơ bao giờ cũng là một cấu trúc mở, gợi thức cho người đọc những chân trời của sáng tạo và cảm nhận. Có thể nói, đây là một thành công đáng ghi nhận trong Chạm Bóng.

Tôi muốn dẫn ra đây một số câu kết ở các bài thơ để chúng ta đọc và suy ngẫm. Người đọc có thể đồng ý hoặc không đồng ý với cảm nhận của tôi. Nhưng tôi tin rằng, họ sẽ có cảm giác rất lạ khi đọc những câu kết ở các bài thơ này. Đó là những bài thơ, tuy đã kết, nhưng ý tưởng trong thơ thì cứ mãi ám ảnh chúng ta như một thứ kinh cầu.

Chắp tay/ một tiếng Di Đà/ về xin khổ hạnh/ ta bà/ chốn tu!
(Thiên An Môn)

Hay một kết thúc thật bất ngờ… trong Bến Đợi :

Khản giọng gọi đò/ anh sương giá/ đợi em.
( Bến Đợi )
Và một kết thúc đầy thảng thốt trong Ngọ Môn :
Sương lan/ hương nhãn/ sững sờ .
( Ngọ Môn )

Và lại, một kết thúc đầy xa xót khiến ta không khỏi se lòng khi đọc Bóng Chân Cầu:

Chiều đứng ngóng sông xưa/ con nước xuôi đã lâu/ về biển,/ anh/ riêng vẫn đổ/ bóng chân cầu/ giờ em ở đâu?
( Bóng Chân Cầu )

Đọc những câu thơ như thế, tôi cứ thấy lòng mình rưng rưng…thê thiết!? Phải chăng, những câu thơ nầy đã chạm đến cõi thẩm sâu trong tâm hồn chúng ta, nó hiện hữu giữa cõi nhân gian nầy như những thông điệp đầy tính nhân văn, kết nối tâm hồn con người. Thế giới thơ trong Chạm Bóng đã chạm đến những giá trị nhân bản của cuộc đời. Đọc Chạm Bóng, ta không chỉ bắt gặp những câu thơ giàu chất trữ tình mà còn có những câu thơ đầy chất triết lý nhân sinh – mà nếu không có sự trải nghiệm cuộc sống, thi nhân không thể nào viết được những câu thơ “đời” đến như thế !?

Bây giờ nụ cười đã khác/ mùi phấn son cũng khác…/ chỉ có cỏ còn nguyên/ màu đắng/ chim áo già/ vẫn cất giọng chàm nâu…./ giờ mọi cái đều ảo/ chỉ có tiếng trẻ con là thật/ em cứ về đi!
(Bây Giờ)

Và như vậy, có thể nói, thơ Đinh Tấn Phước trong Chạm Bóng là thơ của một cõi nhân sinh, mà ở đó, ta có thể tìm thấy mọi bình diện của đời sống với tất cả hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục… Đến với thơ Đinh Tấn Phước trong Chạm Bóng là đến với một tiếng gọi thao thiết từ những dâu bể của cuộc đời vốn đầy bất an. Ở đó, ta không chỉ tìm thấy được hình bóng cuộc đời mà còn chạm đến những nỗi đau nhân tình thế thái của phận người trong cõi nhân gian. Vì vậy, nếu Phạm Thiên Thư với Ngày Xưa Hoàng Thị là người suốt đời đi tìm bụi đỏ, thứ bụi đỏ của thân phận và tình yêu, thì Đinh Tấn Phước là người suốt đời tìm bóng, cái bóng hiện hữu và hư vô của bản thể và của kiếp nhân sinh!?

Nhưng làm sao chúng ta có thể chạm được bóng của mình, khi vẫn còn hiện hữu trên đầu ta bóng tối và ánh sáng, ngày và đêm… Chiếc bóng ấy mãi treo lơ lững giữa cõi nhân gian như một thứ định mệnh. Vì thế, đến với Chạm Bóng chính là đến để chạm vào một cõi nhân sinh. Và Đinh Tấn Phước, một thi sĩ luôn khao khát sống mãnh liệt giữa cuộc đời như tính cách của anh, cũng là một người luôn khát khao đi tìm chiếc bóng của chính mình. May mắn cho anh, cũng là hạnh phúc cho anh, vì là một thi sĩ, cho nên dẫu anh không tìm được chiếc bóng của mình giữa cuộc đời đầy nhiễu nhương này, thì anh cũng đã tìm được chiếc bóng của mình trong thơ – bằng một tình yêu bất tử với thơ, khi anh đã thật sự ngộ ra rằng:

Giờ thu mấy độ/ sương mờ/ cây rơm chất đầy ngọn gió/ anh đã bỏ sau lưng mọi thứ/ trừ thơ.
(Bây giờ)

Sài Gòn, Những ngày mưa tháng 7 – 2011

Trần Hoài Anh

Chú thích: * Tên một tập thơ của Chế Lan Viên



https://sacmauthoigian.wordpress.com/2011/08/30/ch%E1%BA%A1m-bong-%E2%80%93-ch%E1%BA%A1m-vao-coi-nhan-sinh/

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thầy Trần Hoài Anh

Bài gửi  phannguyenquoctu on Thu Jan 03, 2013 10:52 pm

http://4phuong.net/index.php?action=search&mode=author&query=Tr%E1%BA%A7n%20Ho%C3%A0i%20Anh

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thầy Trần Hoài Anh

Bài gửi  phannguyenquoctu on Thu Jan 03, 2013 10:55 pm

Hồn phố qua những con đường trong nhạc Trịnh Công Sơn

Trần Hoài Anh

Thoáng chốc, đã 10 năm, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rời xa cõi tạm. Thời gian trôi thật nhanh và cuộc sống cũng đã có biết bao biến đổi. Những gì được, mất… vẫn cứ trôi theo dòng đời. Nhưng nhạc Trịnh Công Sơn và hình ảnh của ông vẫn còn đó trong tâm thức biết bao người. Và cũng còn đó những đường phố ông đã đi qua, đã thao thức, đã ngắm nhìn, đã gắn bó... Và rồi cũng chính ông chứ không phải ai khác với biết bao trải nghiệm đã thổi vào những đường phố vô tư kia một linh hồn, một số phận, một cuộc đời. Vì vậy, hồn phố qua những con đường trong nhạc Trịnh Công Sơn là một phần không thể thiếu trong gia tài âm nhạc mà ông để lại cho đời.

Trịnh Công Sơn sinh ngày 28. 2. 1939, tại thành phố Buôn Mê Thuột, một tỉnh thuộc cao nguyên Trung phần. Nhưng ông lại lớn lên, trưởng thành ở Huế và Sài Gòn. Và cũng từ thành phố Sài Gòn hoa lệ này, trong những năm đầu của thế kỷ XXI, tại con phố quen thuộc trên đường Duy Tân, (tên gọi trước 1975) nay là đường Phạm Ngọc Thạch, ông đã vĩnh viễn đi ra ngoài cõi sống. Như vậy, cả cuộc đời Trịnh Công Sơn luôn sống và gắn bó với chốn thị thành. Có lẽ, vì thế, chất văn hóa đô thị đã thấm sâu trong tâm thức ông và kết tinh thành những dự phóng sáng tạo. Nhạc Trịnh Công Sơn, vì thế là loại nhạc sang trọng, thanh tao mang dấu ấn của nền văn hóa đô thị. Đến với nhạc Trịnh, ta thấy hiện lên hình ảnh những con đường mà ở đó chất chứa bao thăng trầm của phận người cũng như số phận của lịch sử dân tộc mà ông là một chứng nhân.

Không biết tự thuở nào, hình ảnh đường phố đã trở thành một ám ảnh trong tâm thức Trịnh Công Sơn và biến thành cảm hứng sáng tạo, tan chảy vào nhạc của ông. Vì vậy, những đường phố trong nhạc Trịnh Công Sơn không phải là những con đường vô hồn của cuộc sống đô thị xô bồ mà đã trở thành một thân phận, một định mệnh gắn liền với cuộc sống con người và lịch sử.

Trước 1975, khi đất nước còn đắm chìm trong khổ đau của chiến tranh, khi mà số phận của một nửa dân tộc phải sống trong sự giày xéo bởi đạn bom kẻ thù, cũng như mọi người dân Việt Nam yêu nước lúc bấy giờ, Trịnh Công Sơn luôn sống trong khắc khoải và khổ đau nên “tình cảm đau thương về Tổ quốc là một cảm hứng lớn trong nhạc Trịnh Công Sơn” (1). Vì thế, khát vọng về một ngày đất nước thống nhất, hòa bình luôn canh cánh trong lòng ông. Nhưng rồi ngày ấy sao quá xa mờ và cũng như ông, những đường phố lúc này phải sống trong hắt hiu, buồn thảm, đau đớn và tiêu điều.

Đường phố nào một đường phố nào
Đường phố nào còn nằm che dấu
Cho tôi đi giữa nhân loại đớn đau
Đường hắt hiu
.............
Đường phố buồn một đường phố buồn
Đường phố buồn mọi người đi vắng
Trong kinh đô tiêu điều dấu ngựa hồng
Đường im lìm
……
Đường phố cần một giờ yên lành
Đường yên bình và nằm nghe ngóng
Nghe trong đêm những cây cành báo tin
Đường giới nghiêm …
( Có những con đường)

Không đau khổ và buồn thảm sao được khi cũng như ông, những đường phố quen thuộc ấy, từng ngày, từng giờ, luôn chứng kiến cảnh đồng bào mình, nhân dân mình và chính bản thân mình phải sống trong khổ đau và khốn khó của chiến tranh. Trước hiện thực đen tối ấy, cái tâm thức hiện sinh nhuốm màu Phật học trong ông lại trỗi dậy, nhập vào hồn của từng con phố, tạo cho nó những ẩn dụ đầy tính triết luận làm cho những con phố kia bỗng chốc trở thành những số phận rong ruỗi trong cuộc đời

Dưới ngọn đèn một bóng chim qua
Giữa đường đi một người đứng gọi
Có biết gì về ngày chưa tới…
( Cỏ xót xa đưa)

Nhưng cũng chính từ trong những năm chiến tranh gian khổ ấy, Trịnh Công Sơn đã luôn mơ ước một ngày hòa bình trên quê hương mình. Vì thế, cho dẫu những đường phố trong nhạc của ông vốn phủ đầy màu sắc của khổ đau và cô quạnh thì vẫn có những lúc rực sáng một niềm tin và chính điều này đã làm cho hồn phố qua những con đường trong nhạc của ông bỗng chốc rạng rỡ niềm vui cho dù niềm vui đó chỉ tồn tại trong mơ ước

Đường ta đi mênh mông phố xá bao người quen
Bàn chân ta thênh thang những nắm tay reo mừng
…..
Đường Việt Nam hôm nay có bước chân tự do
( Đồng dao hòa bình)

Đó là những hình ảnh đầy tính dự báo, để rồi khi nước nhà thống nhất, những đường “phố giới nghiêm”, những đường “phố im lìm”, những đường “phố buồn” đến “hắt hiu” ngày nào đã trở thành những đường “phố mùa xuân” với những hình ảnh linh động và đầy sức sống cho dẫu tiết trời giờ đã sang thu

Xôn xao con đường xôn xao lá
Nhòa phố mong manh nhòe phố mưa
(Đoản khúc thu Hà Nội)

Và hồn phố lúc này đã sáng ngời lên sức sống của những chồi non xanh biếc cùng với sự đổi thay của đất nước trong cuộc sống hòa bình

Đường phố em về tết cùng hoa quyến luyến
Chồi lá khoe mầm cho đời biết tên
(Thành phố mùa xuân)

Và còn vui hơn khi

Về thăm phố quen
Ngàn sao lung linh suốt đêm
(Tết suối hồng)

Chính niềm tin vào sự đổi thay diệu kỳ của đất nước, Trịnh Công Sơn đã khẳng định một điều mà trong những năm tháng đầy khó khăn của thời “bao cấp” ấy, không phải ai cũng có một niềm tin mãnh liệt như thế!?.

Em ra đi nơi này vẫn thế
Vẫn có em trong tim của mẹ
Thành phố vẫn có những ước mơ
Vẫn sống thiết tha
Vẫn lấp lánh hoa trên đường đi
(Em còn nhớ hay em đã quên)

Điều này, theo chúng tôi, thêm một lần nữa để khẳng định tấm lòng yêu quê hương tha thiết và khát vọng về một nước Việt Nam tươi đẹp, phồn vinh mãi mãi là một ám ảnh và là một tâm nguyện hằng cửu trong trái tim của người nhạc sĩ thiên tài họ Trịnh chứ không phải là thứ “tình cảm màu mè”, “làm dáng”, “xu thời”, “cơ hội” như ai đó đã từng nghĩ không đúng về ông. Bởi nói như GSTS. Huỳnh Như Phương, trong bài viết “Tưởng niệm nhạc sĩ Trịnh Công Sơn” năm 2009, xét cả về “tư cách công dân lẫn tư cách nghệ sĩ, Trịnh Công Sơn không phải là người “tùy thời”, càng không phải là người “xu thời””(2). Chính vì vậy, chúng ta hoàn toàn có thể tin vào những thông điệp đầy tính nhân văn mà ông giử lại trong sự nghiệp âm nhạc đồ sộ của mình.
Nhưng có lẽ cái hồn phố kết tinh sâu sắc nhất qua những con đường trong nhạc Trịnh Công Sơn chính là những con phố gắn bó với bao kí ức và hoài niệm của ông về tình yêu và thân phận. Đó là một thế giới cô đơn và đau khổ của phận người đã làm cho ông ( và có lẽ cho nhiều người trong chúng ta), nhiều khi đi giữa phố phường vẫn cảm thấy xa lạ, cái xa lạ đến hắt hiu trong một thế giới rỗng không của tâm thức hiện sinh. Bởi theo, Hoàng Phủ Ngọc Tường: “Nỗi cô đơn của phận người là một đóng góp quí báu của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho cảm hứng âm nhạc Việt Nam một thời”. (3) Vì: “một nền nghệ thuật đánh rơi mất nỗi cô đơn của phận người chưa phải là một nền nghệ thuật hoàn hảo”(4)

Đường nào quạnh hiu tôi đã đi qua
Đường về tình tôi có nắng rất la đà
Đường thật lặng yên lòng không gì nhớ
Giật mình nhìn quanh ồ phố xa lạ
(Bên đời hiu quạnh)

Vốn là người chịu ảnh hưởng của triết lý Phật giáo và triết học hiện sinh nên tư tưởng trong nhạc của Trịnh Công Sơn là sự hợp lưu giữa hai dòng sông triết học đó. Vì thế cái hồn phố qua những con đường trong nhạc Trịnh Công Sơn cũng là một nhánh sông chở đầy sắc màu tư tưởng Phật giáo và chũ nghĩa hiện sinh. Hay nói cách khác, đường phố trong nhạc Trịnh Công Sơn cũng là phương tiện chuyển tải những tư tưởng triết học của ông đến người tiếp nhận trên nhiều bình diện khác nhau của đời sống. Sự đa dạng và sâu sắc của các hình tượng đầy tính đa nghĩa này đã biến hồn phố qua những con đường trong nhạc Trịnh Công Sơn trở thành một mã văn hóa, mã thẩm mỹ riêng trong thế giới nghệ thuật âm nhạc chứa đầy tâm thức hiện sinh của ông.

Đường phố dài một đường phố dài
Đường phố này một chiều tôi tới
Đi lang thang tôi chào vẫy mọi người
Đường phố cười.
Đường phố nào một đường phố nào
Đường phố nào còn nằm che dấu
Cho tôi đi giữa nhân loại đớn đau
Đường hắt hiu
…..
Đường phố buồn một đường phố buồn
Đường phố buồn mọi người đi vắng
Trong kinh đô tiêu điều dấu ngựa hồng
Đường im lìm
(Có những con đường)

Quả thật, với tính đa nghĩa của ngôn từ trong nhạc Trịnh Công Sơn, để giải mã hồn phố qua những con đường trong nhạc của ông không phải là điều đơn giản. Bởi ngôn ngữ trong nhạc Trịnh Công Sơn là một thứ ngôn ngữ đa trị chứa đầy chất suy tưởng của tư duy triết luận, là một thứ ngôn ngữ được mã hóa nên mang tính ẩn dụ rất cao. Nó là một thứ ngụ ngôn của cuộc sống và tình yêu mà chỉ có sự nghiệm sinh ở mỗi người mới may ra cảm nhận được. Và đó là sự cảm nhận của vô thức và tâm linh, một sự cảm nhận không cần phải lý giải. Bởi nó như một thứ dưỡng khí của tâm hồn giúp ta bình yên sau những bộn bề lo toan của đời sống. Đó cũng là một thứ kinh cầu cứu rỗi linh hồn ta trong cõi nhân gian đầy bụi bặm này. Đến với nhạc Trịnh Công Sơn là đến để lắng nghe, để thổn thức, để tĩnh tâm cảm nhận như cảm nhận từng lời ru tha thiết…

Ôi đường phố dài
Lời ru miệt mài, ngàn năm ngàn năm
Ru em nồng nàn, ru em nồng nàn
….
Ôi đường phố dài
Lời ru miệt mài, ngàn năm ngàn năm
Ru em giận hờn ru em giận hờn
(Tuổi đá buồn)


Và cũng có khi cái hồn phố ấy lại gắn với những con đường đầy mộng mị của những dấu chân kỉ niệm trong tình yêu mà nhiều khi chỉ cần nhắc đến là ta lại thấy nao lòng…

Đường phượng bay mù không lối vào
Hàng cây lá xanh gần với nhau
( Mưa hồng)

Hay có khi là những con nắng thắp đầy trong ký ức yêu đương
Đường đi suốt mùa nắng lên thắp đầy
( Hạ trắng)

Và cứ thế hồn phố lại hóa thân thành những nổi ám ảnh của vô thức và tâm linh, là một sự tìm về với sự mỏng manh của phận người trong cõi vô thường.

Ta về nơi đây phố xưa dấu đạn
Con đường bên sông có lá buồn tênh
Ta về nơi đây tháng năm quá rộng
Đường xưa em lại thấp thoáng bàn chân
( Khói trời mênh mông)

Nhưng sẽ là một điều thiếu sót nếu nói đến hồn phố qua những con đường trong nhạc Trịnh Công Sơn mà không nói đến hình ảnh của những con người mà số phận cuộc đời luôn gắn liền với nhũng con đường thành phố. Đó là hình ảnh người phu quét đường lặng lẽ giữa dòng đời xuôi ngược…

Người phu quét lá bên đường
Quét cả nắng hồng
Quét hạ buồn tênh
….
Người phu thôi quét bên đường
Quét chổ em nằm
Quét cả mùa xuân
(Góp lá mùa xuân)

Hay hình ảnh của những cô gái lầm lỡ trong đời mà cuộc sống gắn với những đường phố tối tăm và u ám. Nhưng rồi họ cũng tìm thấy ánh sáng và ý nghĩa của cuộc sống khi nhận ra sự bất hạnh của mình và đã từ bỏ cái quá khứ tối tăm đau khổ ấy để đi về phía ánh sáng được thắp lên từ lòng nhân ái và sự bao dung của cuộc đời

Em về đâu hỡi em
Có nghe tình yêu lên tiếng
Hãy chôn vào quên lãng
Nỗi đau hay niềm cay đắng
Đời nhẹ nâng bước chân em
Về lại trong phố thênh thang
Bao buồn xưa sẽ quên
Hãy yêu khi đời mang đến
Một cánh hoa giữa tâm hồn
( Đời gọi em biết bao lần)

Như vậy, hồn phố qua những con đường trong nhạc Trịnh Công Sơn là một hiện tượng đa nghĩa. Nó luôn gắn với hiện thực cuộc sống của môi trương văn hóa đô thị. Nó là một biểu hiện trong đời sống tâm hồn của con người phố thị. Và dưới cái nhìn của Trịnh Công Sơn những đường phố ấy là những sinh linh với tất cả sự phong phú của thế giới tâm hồn chứ không phải là một vật thể khô khan vô nghĩa. Tìm về với hồn phố qua những con đường trong nhạc Trịnh Công Sơn cũng là tìm về thế giới của hiện hữu gắn với thân phận con người. Và chính vì thế nó cũng gắn với vận mệnh của dân tộc và của mỗi cá nhân.

Vì vậy, hồn phố qua những con đường trong nhạc Trịnh Công Sơn thật sự là một hệ giá trị không thể phủ nhận đã góp phần làm nên sự hằng tồn của nhạc Trịnh Công Sơn. Và tôi tin vào sự bất tử của nhạc Trịnh Công Sơn như ngày xưa Ga-li-lê đã tin vào chân lý khoa học khi ông khẳng định trái đất vẫn quay quanh mặt trời cho dẫu đứng trước hình phạt của tòa án giáo hội, tòa án của một thế lực thần quyền trong thời đại trung cổ đầy dã man ấy. Bởi nói như André Malraux: “Nghệ thuật là cái chống lại định mệnh”. Phải chăng âm nhạc Trịnh Công Sơn cũng là một loại “nghệ thuật chống lại định mệnh” như thế! Và xin mượn lời của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường để khép lại bài viết của mình: “Chúng ta hài lòng khi thấy Trịnh Công Sơn đã giành được trong tay định mệnh, cái mà người nghệ sĩ nào cũng thèm muốn: Sự bất tử.” (5)./.

Tp. Hồ Chí Minh, 31/3/2011

Chú thích:
(1) (3) (4) (5) Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của hoàng tử bé, Nxb Trẻ, 2005, tr.8, 7, 7, 138
(2) Huỳnh Như Phương, “Tưởng niệm Trịnh Công Sơn”, đăng trên http://www.viet- studies.info/culture.htm
Nguồn: http://www.vanchuongviet.org/


http://4phuong.net/ebook/47262167/hon-pho-qua-nhung-con-duong-trong-nhac-trinh-cong-son.html

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thầy Trần Hoài Anh

Bài gửi  phannguyenquoctu on Fri Jun 21, 2013 8:20 pm


Khúc hòa âm thành thực của tâm hồn!


Tháng Năm 11, 2013 at 12:47 chiều 


Trung tuần tháng chạp năm Nhâm Thìn (2012), bạn tôi, tiến sĩ Trần Hoài Anh – Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam hiện là giảng viên Trường Đại học Văn hóa Tp HCM điện thoại về: “Mình vừa phê bình tập thơ Gieo Hạt của Huỳnh Vân Hà, bài viết này có thể đăng ở các báo, tạp chí của tỉnh. Nếu được đăng, nhờ bạn nhận tiền nhuận bút bài viết của mình ủng hộ cho gia đình Huỳnh Vân Hà, vừa động viên Hà vượt qua cơn bạo bệnh. Nhưng thành ý của Trần Hoài Anh chưa kịp biến thành sự thực thì Hà đã ra đi vào sáng ngày 10/5/2013. Xin trân trọng giới thiệu bài viết của tiến sĩ Trần Hoài Anh.


HỒ NGHĨA PHƯƠNG









Khúc hòa âm thành thực của tâm hồn!
(Đọc Gieo hạt – Thơ Huỳnh Vân Hà,
Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ngãi – 2012)
 
          Không phải ngẫu nhiên, Huỳnh Vân Hà mượn câu thơ của Raxun Gamzatop làm đề từ cho tập thơ của mình:
                   Thơ tôi dở hoặc hay biết làm sao khác được
                   Chỉ biết đời tôi nằm trọn ở thơ tôi!

          Mỗi nhà thơ khi cầm bút làm thơ đều có ý thức kiến tạo cho mình một cõi thơ riêng. Trong cõi thơ ấy có người thiên về những giá trị nội dung của thơ, lại có người thiên về hình thức nghệ thuật. Họ chủ tâm chăm chút cho từng con chữ, từng lời thơ, ý thơ mà quên rằng “hồn cốt” của thơ không chỉ được thể hiện qua những con chữ màu mè nhiều khi đến vô cảm mà còn được thể hiện ở sự thành thực trong thơ. Và điều người đọc cần nhất ở nhà thơ có lẽ không phải là việc làm xiếc trên những ngôn từ lạnh lùng mà đó chính là sự thành thực trong tâm hồn của nhà thơ trước cuộc đời. Điều mà Hoài Thanh khi cảm nhận về giá trị của phong trào Thơ mới Việt Nam những năm 1932 – 1945 trong Thi nhân Việt Nam gọi là “ cái khát vọng được thành thực. Một nỗi khát vọng khẩn thiết đến đau đớn”. (1) Và đây cũng là điều tôi muốn chia sẻ khi đọc tập thơ Gieo hạt của Huỳnh Vân Hà.
          Quả thật, đọc Gieo hạt – tập thơ đầu tay của Huỳnh Vân Hà, nếu chúng ta cứ cố tìm trong đó những câu thơ hay, những bài thơ hay thì sẽ không thể nào thỏa mãn hoàn toàn nhu cầu mỹ cảm của mình. Nhưng nếu ta đến với thơ anh bằng tấm lòng của kẻ tri âm để đi tìm sự hòa điệu của tâm hồn mà ở đó sự thành thật đã trở thành một phẩm chất nổi trội thì ta sẽ thấy yên lòng. Sư thành thật trong thơ Huỳnh Vân Hà là sự thành thật đến hồn nhiên đối với thơ, với cuộc đời và với chính mình. Điều mà chúng ta không dễ tìm thấy trong cuộc sống này!?
          Nếu ta tin rằng Văn chính là người thì ở Huỳnh Vân Hà điều ấy là một giá trị. Đọc thơ anh, ta thấy toát lên những phẩm chất Người, cái mà chúng ta vẫn gọi là những giá trị nhân bản. Đó là những phẩm chất rất thành thực như chính sự thành thực của con người anh trong cuộc sống. Phẩm chất người ấy được thể hiện qua tình cảm của anh đối với những bậc sinh thành ở các bài thơ: Thu về nhớ chaCon không bao giờ còn được gọi chaBông hồng trắng… mà trong đó có những câu thơ đọc lên ta cứ thấy lòng mình tê buốt một nỗi đau của sự chia lìa, mất mát mà số phận đã buộc anh phải sống côi cút giữa đời mà không có sự chở che của cha và vòng tay âu yếm của mẹ. Để rồi anh mãi đi tìm trong vô vọng của hiện hữu:
                             Đêm thu trời một mờ sương
                             Sông thu bàng bạc vấn vương nỗi niềm
                             Cha ơi, giờ biết đâu tìm?
                             Nhìn trăng chỉ thấy bên thềm lá rơi
                                                                    (Thu về nhớ cha)
          Nhà thơ Tố Hữu đã từng nói đại ý: Bài thơ hay là bài thơ làm cho người ta không còn thấy câu thơ, chỉ còn thấy tình người. Thơ Huỳnh Vân Hà là thơ chan chứa tình người. Tình cảm trong thơ anh không chỉ dành cho người cha đã xa lìa cõi sống mà còn cho bóng hình người mẹ quá vãng đã trở thành một ám ảnh trong tâm thức anh mà đọc lên lòng ta không khỏi bùi ngùi:
                             Ngày mẹ qua đời, trời cũng rưng rưng
                             Cơn mưa đầu xuân đưa mẹ về với đất
                             Con thì còn, mẹ cha lại mất
                             Mười tám tuổi đầu, con thành trẻ mồ côi!
                                                                   (Bông hồng trắng)
          Đọc thơ Huỳnh Vân Hà, bên cạnh sự kính trọng và yêu thương của anh dành cho những bậc sinh thành, chúng ta còn chia sẻ tình cảm của anh đối với những thầy cô giáo đã từng dạy dỗ mình. Đây không chỉ là tình cảm đơn thuần của học trò đối với thầy mà đó còn là sự cảm thông chia sẻ của những người đồng nghiệp.
        Đoạn trường ai có qua cầu mới hay!? Có lẽ vì thế, những bài thơ anh viết về thầy cô giáo, viết về mái trường, về tuổi học trò hay những bài thơ viết về chính học sinh của mình mà anh đã ngày đêm lặng lẽ tận hiến như: Cô và mùa xuânNhớ thầyNhìn vào mắt nhauVề trường cũ thân thươngCảm xúc cuốiGieo hạt, Cánh hạc – niềm tin… cũng chính là sự kết tinh từ những nỗi đoạn trường ấy. Vì vậy, ở các bài thơ nầy ta không chỉ cảm nhận được dư vị ngọt ngào mà còn có cả những đắng cay trước thế thái nhân tình, khiến ta không khỏi chạnh lòng trước những phủ phàng của cuộc sống, con người:
                                 Hai mươi bảy năm
                             Bao thế hệ học trò đã đi qua
                             Cô vẫn như con đò lặng thầm đưa khách
                             Cô ơi, xin đừng trách,
                             Bến đò xưa có kẻ chẳng quay về!..
                                                          (Cô và mùa xuân)
          Và phải chăng vì cảm nhận được sự bạc bẽo của cái nghề mà anh đã trải nghiệm bằng chính cuộc đời mình cho nên khi viếng người thầy đã mất anh tâm nguyện:
                             Thầy xa rồi cõi trần ai
                             Bóng hình Thầy, sẽ nhớ hoài trong tim
                                                          (Nhớ thầy)
          Mặc dù vậy, với anh tình cảm thầy trò vẫn luôn là một giá trị, là lẽ sống, là niềm tin giúp anh vượt qua những giông bão, những khó khăn trong cuộc đời để dấn thân cho sự chọn lựa của mình như một sự an bày của số phận:
                             Thầy bệnh nằm nhà
                             46 học trò đến thăm
                             Với món quà…
                             1000 chim hạc giấy
                             
                             Cảm ơn các em
                             Đã cho thầy
                             1000 niềm tin
                             Vào con người
                             Cuộc sống
                                                          (Cánh hạc – niềm tin)
          Thơ Huỳnh Vân Hà là như thế! Chân mộc đến hồn nhiên!? Đó là sự hồn nhiên của một tâm hồn thành thực đến trong suốt. Tôi quý thơ anh và cảm thấy ở đó có một tiếng gọi. Đó là tiếng gọi của tâm linh được kết tinh từ những giá trị nhân bản mà không dễ gì tìm thấy trong cuộc sống đầy những dối gian và bất an nầy!?
          Thế giới tâm hồn trong thơ Huỳnh Vân Hà là thế giới của một sự hòa điệu những giá trị nhân văn đáng quý. Và trong bản hòa âm tâm hồn nầy ta còn thấy đọng lại trong thơ anh những khát vọng kiếm tìm về những bóng hình xa xăm nào đó… Đọc những bài thơ như: Nụ hồngTrăng nướcÁng mây và dòng nướcTên emThươngTình thuKhông đềHương ngọc lanDẫuHương trăngXúc cảm… đều thể hiện những cảm xúc sâu lắng nhưng không kém phần dữ dội trước những bóng hồng, những nhan sắc đi qua cuộc đời anh.
          Thật vậy, tình yêu mãi mãi là một tiếng gọi thê thiết nhất trong trái tim nhân loại. Và tình yêu cũng là một thiên sứ trong thế giới của thi ca nên thơ Huỳnh Vân Hà cũng không phải là một ngoại lệ. Chính vì vậy, những bài thơ viết về tình yêu ở tập thơ nầy cũng là một cung bậc trong bản hòa âm ở tâm hồn thơ của anh mà khi đọc lên ta không khỏi thấy nao lòng .  Tình thu là một bài thơ như thế:
                             Trăng đêm nay trong vắt
                             Lác đác lá vàng rơi
                             Dưới chân ai xào xạc
                             Ô hay! Thu đến rồi!
 
                             Em nâng nhành hoa sữa
                             Hương thu đầy trên tay
                             Nước hồ thu êm ả
                             Mắt ai nhìn đắm say!
                  
                             Bao mùa thu đã đến
                             Bao mùa trăng đã qua
                             Chất chồng bao kỷ niệm
                             Tình thu càng thiết tha
 
                             Ta yêu thu hoa mộng
                             Yêu người ngồi bên ta
                             Bỗng nghe lời gió nói:
                             Đừng bao giờ chia xa!
                                                          (Tình thu)
          Quả thật, thơ viết về mùa thu bao giờ cũng để lại trong lòng người đọc những dư vị xao xác đến lạ lùng. Tình thu trong thơ Huỳnh Vân Hà cũng gợi trong lòng ta cảm giác tái tê về sự xa cách… Và có lẽ đây là một trong những bài thơ gợi cho người đọc nhiều thổn thức nhất trong bản hòa âm về tình yêu trong thơ anh. Song chính ở lĩnh vực tưởng chừng chỉ có sự lãng mạn và bay bổng này, ta vẫn thấy ở thơ Huỳnh Vân Hà một cảm xúc thành thực, rất hồn nhiên, rất “quê mùa”. Đó là một chất “quê mùa” như một giá trị khó tìm thấy trong xã hội hiện đại nhố nhăng với những thứ văn hóa lai tạp, lẫn lộn nửa tây, nửa ta mà nhiều người đang mãi đam mê, chạy theo như một thứ mốt. Còn riêng anh thì vẫn “chân quê”, dụng dị đến lạ thường:
                             Hoa vẫn còn đây, em ở đâu?
                             Sắc hoa vẫn thắm, lá xanh màu
                             Như hoa, em quá tầm tay với
                             Để nặng lòng ai những nỗi đau!
                                                              Hương ngọc lan)
          Và chính vì gắn bó thơ mình, đời mình với những giá trị Chân quê ấy mà trong bản hòa âm tâm hồn thơ Huỳnh Vân Hà còn thể hiện tình cảm sâu nặng của anh với quê hương, đất nước. Những chuyển động của quê hương dù nhỏ hay lớn cũng réo gọi tâm hồn anh và đi vào trong thơ anh thật hồn nhiên, bình dị. Điều đó ta sẽ tìm thấy ở những bài thơ như Quảng ngãi quê emThành phố tôi vềNhớ Phổ Vinh,Nói với con
          Và đây là lời tự tình của anh đối với thành phố yêu thương của mình:
                             Thành phố tôi về rợp bóng hoa
                             Ôi màu đỏ thắm: máu tim ta!
                             Đưa tay, tôi hái nhành phượng vĩ
                             Lòng nhớ vô cùng kỷ niệm xa!
                                                                 (Thành phố tôi về)
          Một điều khá thú vị, tôi muốn nói đến như một phần vĩ thanh khi đọc tập thơGieo hạt của Huỳnh Vân Hà đó là chất triết luận trong thơ anh. Hay nói cách khác đó là những câu thơ gợi cho người đọc cảm giác có tính chất triết lý đã đi vào trong thơ một cách tự nhiên, không làm dáng, không cao đạo. Và phải chăng, đây cũng là một cung bậc khác trong bản hòa âm của tâm hồn thơ Huỳnh Vân Hà, thể hiện sự nghiệm sinh của anh trước cuộc đời. Đọc những bài thơ: Vì sao lá bàng rơi?Nụ hồngNghĩ về “chiếc ghế”Áng mây và dòng nướcNhìn nghiêngHoa cúc dạiNơi đến… ta thấy rõ những điều nầy.
          Và Nhìn nghiêng là bài thơ thể hiện một quan niệm nhân sinh khá tinh tế trong thơ Huỳnh Vân Hà:
                             Với cuộc đời
                             Ta nhìn thẳng
                             Để vươn tới tương lai
                             Ta nhìn lại sau lưng
                             …
                             Có lúc ta phải nhìn nghiêng
                             Để thấy
                             Cuộc sống quanh ta
                             Muôn vẻ
                             Muôn màu!…
                                                      ( Nhìn nghiêng)
          Quả thật, đây là một sự cảm nhận khá thú vị về cuộc sống. Không có một trải nghiệm tinh tế chắc hẳn sẽ không có những vần thơ đầy suy tưởng sâu sắc như thế!?
          Và chất suy tưởng nầy cũng là cảm hứng chủ đạo trong bài thơ Nơi đến, một bài thơ góp phần xác lập một hệ giá trị trong thơ Huỳnh Vân Hà. Đây là một những bài thơ rất hiếm gặp trong thơ của anh. Nhưng có hề chi, trong đời của người làm thơ, nếu có một bài thơ hay, thậm chí một câu thơ hay neo lại trong tâm thức người đọc cũng là hạnh phúc rồi. Nơi đến của Huỳnh Vân Hà là một bài thơ như thế. Và điều nầy, thiết nghĩ đối với anh đã là một hạnh phúc!?…
       Và tôi chọn bài thơ Nơi đến để khép lại những suy nghĩ tản mạn của mình về thơ Huỳnh Vân Hà, một bản hòa âm thành thực trong tâm hồn anh và trong chính thơ anh như một tâm thức hiện sinh. Bởi nói như Cryrian Norwid: “Thế giới này rốt cuộc chỉ còn lại hai thứ, chỉ hai thứ thôi: Thi ca và lòng nhân ái… Không còn gì khác”:
                             Buông một quả bóng bay
                             Bong bóng bay lên bầu trời xanh thẳm
                             Thả một hòn sỏi nhỏ xuống giếng
                             Hòn sỏi sẽ nằm yên dưới lòng biển khơi
                             Đổ một bát nước xuống dòng sông
                             Nước sẽ trôi về cùng biển cả
                             Còn ta tự ném ta
                             Ta biết đến nơi nào?!
                                                          (Nơi đến)




                               Gò Vấp, Những ngày cuối năm 2012
                                                       27/12/2012
                                              Tiến sĩ Trần Hoài Anh


Chú thích:
(1) Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, H, 2003, tr. 18



https://sacmauthoigian.wordpress.com/2013/05/11/khuc-hoa-am-thanh-thuc-cua-tam-hon/#more-2705

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thầy Trần Hoài Anh

Bài gửi  phannguyenquoctu on Fri Jun 21, 2013 8:52 pm


Có lẽ có một phần lý do là cùng công tác với Thầy Hà trong một thời gian không ngắn, nên những chia sẻ của Thầy Hoài Anh về Gieo hạt của Thầy Hà, về Thầy Hà thật sâu lắng, và thật nhiều cảm xúc....


Xin cảm ơn Thầy Hoài Anh về bài viết mà em lang thang gặp được này.

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thầy Trần Hoài Anh

Bài gửi  phannguyenquoctu on Fri Jun 21, 2013 10:04 pm

http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacgia&action=detail&id=2045

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thầy Trần Hoài Anh

Bài gửi  phannguyenquoctu on Fri Jun 21, 2013 10:09 pm



 
Tự lực văn đoàn trong cái nhìn của lý luận – phê bình văn học ở miền nam 1954 – 1975

Trần Hoài Anh
1. Trong văn học hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, cùng với phong trào Thơ mới, Tự lực văn đoàn cũng là một hiện tượng văn học mà số phận không thoát khỏi sự thăng trầm trước những biến thiên của đời sống xã hội.
 
Tám mươi năm so với lịch sử dân tộc thì không dài nhưng so với lịch sử của một trào lưu văn học, thời gian ấy cũng đủ giúp ta nhìn lại hiện tượng văn học nầy một cách bình tỉnh, khách quan để có những đánh giá hợp lý hơn. Trong tâm thức ấy, thiết nghĩ, việc tìm hiểu Tự lực văn đoàn trong cái nhìn của lý luận - phê bình văn học đô thị miền Nam 1954 – 1975 cũng có một ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần định vị hiện tượng Tự lực văn đoàn trong tiến trình vận động và phát triển của văn học dân tộc.
2. Trong giai đoạn 1954 – 1975, khi đất nước tạm thời bị chia cắt, tình hình xã hội ở đô thị miền Nam luôn có những biến động, không chỉ trong lĩnh vực chính trị xã hội mà ngay cả trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ. Điều nầy ảnh hưởng rất lớn đến sự vận động và phát triển của lý luận - phê bình mà thể hiện rõ nhất là cái nhìn đa diện, đa chiều trong việc thẩm định các hiện tượng văn học trong đó có trào lưu Tự lực văn đoàn qua các bài lý luận - phê bình xuất hiện trong đời sống văn học ở miền Nam trước 1975. Những bài viết ấy có khi thể hiện sự đánh giá chung về Tự lực văn đoàn, có khi chỉ là sự đánh giá về một tác giả, tác phẩm trong trào lưu văn học này. Đây cũng là hai nội dung cơ bản mà chúng tôi đề cập trong bài viết.
 
2.1. Những đánh giá về trào lưu Tự lực văn đoàn
Phạm Thế Ngũ, trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên tập 3, văn học hiện đại (1862 - 1945) do Quốc học tùng thư xuất bản 1962 tại Sài Gòn đã dành gần 100 trang sách giới thiệu về quá trình ra đời và phát triển của Tự lực văn đoàn. Theo ông “Nói đến Tự lực văn đoàn, người ta không thể không trước hết nói đến Nguyễn Tường Tam người đã hầu như một mình sáng lập ra nó”. (1)
 
Có thể nói phần viết về Tự lực văn đoàn của Phạm Thế Ngũ là phong phú, đánh giá khá khách quan những giá trị của Tự lực văn đoàn. Cảm hứng trong những trang sách của ông là cảm hứng khẳng định: khẳng định sự ra đời của Tự lực văn đoàn là hợp với xu thế khách quan của thời đại và sự đóng góp của Tự lực văn đoàn đối với dân tộc, không chỉ trong lĩnh vực văn học mà còn cả trong lĩnh vực văn hóa. Đó cũng là cảm hứng chung của các cây bút lý luận - phê bình ở đô thị miền Nam khi viết về Tự lực văn đoàn. Vì vậy, khi nhận định về những đóng góp của Tự lực văn đoàn trong lĩnh vực văn học, Dương Nghiễm Mậu cho rằng:“nói về nền văn chương mới, Tự lực văn đoàn là những người tiền phong, chính họ là những người đã làm cho văn chương quốc ngữ đến dần với trưởng thành sau những mở đầu gần gũi. Chính họ với những ảnh hưởng có được từ Tây phương đã tạo thành nhiều tác phẩm giá trị trong thời kỳ văn học trước 1945.”(2) Về ảnh hưởng của Tự lực văn đoàn đối với đời sống xã hội lúc bấy giờ mà đặc biệt là trong tầng lớp thanh niên, Dương Nghiễm Mậu cho rằng: “Trong thời đại của họ, họ đã gây được một ảnh hưởng lớn trong đời sống, đặc biệt là với thanh niên. Với tiểu thuyết, Tự lực văn đoàn đã tạo thành một mẫu người thanh niên mới cho thời đại của họ, nói rõ hơn đó là lớp thanh niên trí thức do nền giáo dục Tây phương tạo thành”.(3) Như vậy rõ ràng, Tự lực văn đoàn dưới cái nhìn của các nhà lý luận - phê bình là một trào lưu văn học đã góp phần không nhỏ mang đến một luồng gió mới về nhận thức xã hội, con người cho tầng lớp thanh niên, nhất là vấn đề tiếp nhận tư tưởng tự do và dân chủ của phương Tây, những nhân tố cần thiết để đẩy nhanh tiến trình biến đổi văn hóa đô thị, một tiền đề quan trọng góp phần hiện đại hóa đất nước và hiện đại hóa nền văn học dân tộc lúc bấy giờ.
 
Còn Thế Uyên trong Nguyên san văn uyển số 6 tháng 10/1968, khi bàn về chủ trương của nhóm Tự lực văn đoàn, ông đã giải bày để biện minh cho tôn chỉ và mục đích của Tự lực văn đoàn khi cho rằng:“cũng nhiều người đã ngộ nhận về chủ trương của Tự lực văn đoàn. Điển hình là nhà học giả Dương Quảng Hàm, vị này đã trách văn đoàn (trong cuốn văn học sử chính thức dùng trong các trường học) là quá cực đoan với cái cũ, bất cứ cái gì cũng đòi phá hủy. Sự thực đối với tục lệ cũ, các bác các chú tôi không hề có thái độ cực đoan như vậy. Các ông đã chỉ làm một chọn lựa lại: xét lại tất cả các tục lệ bắt nguồn từ văn hóa cũ chỉ đã phá những gì thực sự là hủ tục. Không những thế trên thực tế còn đề cao, còn phục hồi những tục lệ thuần chất dân tộc”  (4)
 
            Cũng trong cảm hứng khẳng định về giá trị của Tự lực văn đoàn, trong Thời tập số ra ngày 16/9/1974, từ góc nhìn thể loại, khi bàn về lịch sử của tiểu thuyết Việt Nam, Lê Huy Oanh đã đánh giá cao địa vị của Tự lực văn đoàn trong lịch sử văn học những năm 1930 – 1945 mà ông gọi là văn học tiền chiến. Ông cho rằng: “Trong thời tiền chiến, nhóm Tự lực văn đoàn dưới sự lãnh đạo của nhà văn Nhất Linh – Nguyễn Tường Tam đã là một nhóm có địa vị rất quan trọng trong lịch sử văn chương Việt Nam. Nhóm này, ngoài Nhất Linh đã qui tụ được một số đông đảo các văn nghệ sĩ quan trọng như Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thanh Tịnh, Thạch Lam, Trần Tiêu, Đỗ Đức Thu, Thế Lữ và cũng xuất bản sách cho một số tiểu thuyết gia khác như Mạnh Phú Tứ, Nguyên Hồng. Nhóm này dùng tạp chí Phong Hóa rồi đến Đời Nay để làm cơ quan ngôn luận, truyền bá văn học tư tưởng” (5)
 
Như vậy trong cái nhìn của Lê Huy Oanh, Tự lực văn đoàn đã có những đóng góp tích cực vào sự phát triển của thể loại tiểu thuyết, đặc biệt là tiểu thuyết hiện đại và đã tạo nên sự cách tân cho thể loại tiểu thuyết Việt Nam. Đây cũng là ý kiến của nhà văn Thế Phong trong Lược sử văn nghệ Việt Nam, nhà văn tiền chiến 1930-1945 (Nhận định văn học), Vàng son xuất bản 1974, khi khẳng định Tự lực văn đoàn đã “ có công trong việc tu bổ cho văn chương chúng ta một lối tiểu thuyết mới mẻ, những bài thơ mới giá trị, nổi bật cuộc đời thời ấy. Một Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, một Thế Lữ, Xuân Diệu, là những người có công lớn với lịch sử văn nghệ chúng ta” (6)
 
Trong lý luận - phê bình văn học đô thị miền Nam 1954 – 1975, khi đánh giá về Tự lực văn đoàn, không chỉ có những ý kiến khẳng định, đồng tình mà còn có những ý kiến phản biện. Xu hướng này thể hiện rõ trong cuộc thảo luận với chủ đề nhìn lại Văn nghệ Tiền chiến ở Việt Nam trên tạp chí Sáng Tạo số tháng 10/1960. Đó là ý kiến của Thanh Tâm Tuyền phê phán cái nhìn hạn hẹp của các nhà văn Tự lực văn đoàn trong việc phản ánh đời sống xã hội. Theo ông: “Các nhà văn Tự lực văn đoàn nhìn một cách rất thu hẹp, trong phạm vi gia đình, cá nhân, mà không hề thấy đó là sự đảo lộn cả một nếp sinh hoạt mấy nghìn năm mà trong đó dân tộc phải tìm lấy một đường lối giải thoát thích hợp.” (7) Còn Nguyễn Sĩ Tế, khi bàn về biên độ phản ánh hiện thực trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, cho rằng: “Tác giả tiểu thuyết Tự lực văn đoàn chưa sống với thời đại. Chứng cớ: Những thảm kịch chưng ra trong Tự lực văn đoàn chỉ là một phần rất nhỏ của tấm thảm kịch thời đó. Đứng ngoài ngó vào, nghe đồn, không sống hẳn nên những thảm kịch nêu ra đều hết sức phiến diện. Nhân vật thì chưa đau đớn hết thân phận chúng”(Cool
 
Như vậy, trong suy nghĩ của Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Sĩ Tế thì nhãn quan của các nhà văn Tự lực văn đoàn chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình cá nhân mà chưa nhìn thấy được sự tất yếu phải đến của một cuộc cách mạng xã hội. Nhận định này, theo chúng tôi là chưa thỏa đáng. Bởi lẻ, thông qua tác phẩm của mình, các nhà văn Tự lực văn đoàn cũng đã dự báo về những đổi thay của xã hội lúc bấy giờ. Những đổi thay ấy, tuy chưa phải là những đổi thay mang tính cách mạng theo nghĩa tích cực mà nhiều khi còn rơi vào chủ nghĩa cải lương, nhưng dẫu sao những vấn đề đặt ra trong việc giải quyết những xung đột cũ / mới, cá nhân / gia đìnhmà các tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn luận bàn  cũng có những tác động nhất định đến những thay đổi về một số phương diện nào đó của đời sống xã hội lúc bây giờ. Và đây cũng là một trong những nhân tố góp phần đổi mới và hiện đại hóa văn học, làm tiền đề cho sự phát triển của văn học Việt Nam vốn đã ngủ quá lâu trong lũy tre làng của nền văn học trung đại để bước đầu hội nhập vào nền văn học hiện đại của thế giới.
 
Cũng trong cái nhìn phản biện về trào lưu Tự lực văn đoàn, Nguyễn Văn Xuân trong bài “Từ phong trào Duy Tân đến Tự lực văn đoàn” đăng ở Văn số 107 + 108 ra ngày 15/6/1968, khi so sánh vai trò của phong trào Duy Tân với Tự lực văn đoàn trong việc định hướng cho việc cải cách xã hội về mặt tư tưởng, Nguyễn Văn Xuân cho rằng Tự lực văn đoàn chỉ đóng góp về mặt báo chí, văn học chứ không có gì mới về mặt tư tưởng. Bởi theo ông, tư tưởng Tự lực văn đoàn không có gì mới so với tư tưởng của các trào lưu trước đó, trong đó có phong trào Duy Tân. Vì “Độc giả thanh niên chưa có kinh nghiệm và nghiên cứu các phong trào Duy Tân, đã từng tôn phục Tự lực văn đoàn từ 1932 đến đây đã chia rẽ. Ảnh hưởng tư tưởng của Tự lực văn đoàn chỉ còn đối với một số độc giả trí thức, kém tích cực. Sự thành công của Tự lực văn đoàn như thế chỉ còn thu vào địa hạt sở trường của Văn Đoàn: báo chí, tiểu thuyết, trào phúng” (9)
 
Như vậy, trong tư duy của các nhà lý luận - phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954 – 1975, trào lưu Tự lực văn đoàn không chỉ có những thành tựu mà còn có những  hạn chế mà rõ nhất là về mặt tư tưởng trong việc định hướng sự phát triển của xã hội. Song nếu sự đánh giá những hạn chế của Tự lực văn đoàn còn có những ý kiến khác nhau thì sự đánh giá những thành tựu của Tự lực văn đoàn trong lĩnh vực văn học và báo chí cũng như vai trò của Tự lực văn đoàn trong việc hiện đại hóa nền văn học dân tộc  cơ bản đã có sự thống nhất. Những ý kiến này đều căn cứ trên một cơ sở khoa học văn chương thuần túy và không chịu áp lực / ảnh hưởng bởi những hệ lụy ngoài văn học, nên công bằng, khách quan và có độ tin cậy cao.
 
2.2. Những đánh giá về một số nhà văn trong Tự lực văn đoàn
 
Khi nói đến Tự lực văn đoàn, các nhà lý luận - phê bình văn học ở đô thị miền Nam không chỉ bàn đến tổ chức Tự lực văn đoàn với tư cách là một trào lưu văn học mà còn quan tâm bàn đến văn nghiệp và hành trình sáng tác của một số nhà văn tiêu biểu mà người đầu tiên không thể không nói đến đó là Nhất Linh.
 
Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên tập 3, khi phân tích về các giai đoạn sáng tác của Nhất Linh cho rằng hành trình sáng tạo của Nhất Linh là hành trình sáng tạo của một con người “dường như lúc nào cũng thấy ông chỉ phản ảnh tâm hồn mình, kể lể những băn khoăn của mình, theo đuổi một giấc mơ của mình”. (10)  Còn Lê Huy Oanh, trong Thời tập số ra ngày 16/9/1974, khi đánh giá về vai trò Nhất Linh thì khẳng định:“Nhất Linh luôn xứng đáng là người lãnh đạo là con chim đầu đàn của nhóm Tự lực văn đoàn. (...) Cuốn Đoạn Tuyệt của Nhất Linh đã là một tiếng vang lớn trong lĩnh vực phát huy văn chương và cải cách xã hội”. (11)
 
Để đi tìm một chân dung đích thực về vai trò của Nhất Linh trong văn học hiện đại Việt Nam có thể còn có những ý kiến khác nhau, với nhiều lý do cả trong và ngoài văn chương nhưng sự hiện hữu của Nhất Linh trong văn học sử là điều không thể phủ nhận. Chính vì vậy, trong Đi tìm tác phẩm văn chương (tiểu luận phê bình – Đồng Tháp 1972) ở phần chân dung và tác phẩm, Huỳnh Phan Anh đã chọn Nhất Linh với Bướm trắng , xem đây như một chân dung tiêu biểu của văn học hiện đại Việt Nam và của Tự lực văn đoàn. Và để biện giải cho sự chọn lựa của mình, ông đã khẳng định “Bướm trắng là một cái đỉnh quan trọng của nghệ thuật Nhất Linh. Nó đánh dấu thời kỳ già dặn nhất của tác giả sau những thành công của “Đôi bạn”, “Đoạn tuyệt”. (12) Vì vậy, cũng theo Huỳnh Phan Anh “Bướm trắng  không chỉ là một cuốn sách thêm vào số lượng tác phẩm của Nhất Linh. Nó còn thể hiện ước muốn tích cực của người viết, viết chống lại những gì mình đã viết, viết không có nghĩa là viết lại một tác phẩm nào đó đã viết, viết khác đi, viết như thế tác phẩm mình chưa hề hoàn tất, cũng chưa hề bắt đầu và chỉ đang hứa hẹn”. (13) Và với một cái nhìn biện chứng của một tư duy lý luận - phê bình sắc sảo, Huỳnh Phan Anh đã thêm một lần nữa xác quyết về sự tự phủ định chính mình của Nhất Linh trong hành trình sáng tạo khi ông cho rằng: “có thể quan niệm “Bướm trắng” là một lời nói không của chính tác giả trước những lối mòn của quá khứ. Nó thể hiện và đồng thời thực hiện một cuộc đoạn tuyệt với chính vũ trụ tiểu thuyết quen thuộc của tác giả”. (14) Thiển nghĩ cũng khó có lời nhận xét nào độc đáo hơn lời nhận xét này về quá trình sáng tạo của một nhà văn như Nhất Linh. Bởi đối với một nhà văn, không có giá trị nào lớn hơn sự vượt lên chính mình trong hành trình sáng tạo!?
 
Bên cạnh Nhất Linh, một nhà văn có những đóng góp không kém phần quan trọng trong vào sự tồn sinh của Tự lực văn đoàn cũng như trong nền văn học hiện đại của dân tộc đó là Khái Hưng. Có thể nói, nếu Nhất Linh là linh hồn, là thủ lĩnh của Tự lực văn đoàn thì Khái Hưng cũng là chỗ dựa vững chắc góp phần giữ vững vị trí của văn đoàn trước những biến động / bão giông của đời sống xã hội lúc bấy giờ. Vì vậy, nếu định vị các nhà văn trong Tự lực văn đoàn thì Khái Hưng có lẽ chỉ đứng sau Nhất Linh. Và chính Khái Hưng bằng ngòi bút sáng tạo của mình đã góp phần hoàn thiện chân dung của Tự lực văn đoàn trong văn học sử. Vì vậy, khi đánh giá về Khái Hưng trong cái nhìn đối sánh với Nhất Linh, Phạm Thế Ngũ cho rằng: “Đọc Nhất Linh dường như lúc nào ta cũng thấy ông chỉ phản ánh tâm hồn mình, kể lể những băn khoăn của mình, theo đuổi một giấc mộng của mình. Khái Hưng khác thế, là một cây viết đi nhặt nhạnh truyền người, một thứ gương pha lê hướng ra cuộc đời lắm vẻ và dung nạp một cách trung thực và khoan hóa những tâm tư và hình thái của cả một xã hội chung quanh ông”. (15) Còn Tam Ích trong Ý văn I (Lá Bối xuất bản, 1967) đã đánh giá rất cao vai trò của Khái Hưng và Hồn bướm mơ tiên trong văn học sử khi ông xác quyết: “Ba chục năm trước... có một nhà văn mới ra đời là đã có thế lực: Khái Hưng. Và có một cuốn tiểu thuyết mới ra đời đã chiếm đứt vị trí của Ngọc Lê Hiền và Tố Tâm: cuốn Hồn bướm mơ tiên”. (16) Như vậy, trong tâm thức của Tam Ích cuốn Hồn bướm mơ tiên là đỉnh cao trong văn nghiệp của Khái Hưng, có vị trí và tầm ảnh hưởng lớn trên văn đàn lúc bấy giờ.
 
Song khác với ý kiến của Tam Ích, Lê Huy Oanh trên Thời Tập số ra ngày 16/9/1974, tuy khẳng định tài năng của Khái Hưng nhưng lại phủ định giá trị của tác phẩm Hồn bướm mơ tiên. Theo Lê Huy Oanh: “Khái Hưng cũng là một cây bút viết tài nghệ rất cao của nhóm Tự lực văn đoàn... Cuốn Hồn bướm mơ tiên sở dĩ được coi là quan trọng vì là từ nhiều năm nay, nó nằm trong chương trình quốc văn của học sinh trung học tại xứ ta. Tuy nhiên nếu đem so nó với những tác phẩm khác cùng tác giả như Nửa chừng xuân, Trống mái, Hạnh, Tiếng suối reo... thì Hồn bướm mơ tiên là cuốn sách kém hơn cả, kém ở chỗ nội dung là một truyện thuộc ái tình lý tưởng hơi có vẻ lẩm cẩm và đặc vẻ tuồng cải lương. Cũng may là được phần hình thức gở lại. Văn pháp Hồn bướm mơ tiên khá trong sáng, vững vàng nhất là trong những đoạn tả cảnh”. (17)
 
Như vậy, sự đánh giá về Khái Hưng và những tác phẩm của ông trong lý luận - phê bình văn học ở đô thị miền Nam xét về một phương diện nào đó vẫn còn có những ý kiến khác nhau và đây là điều hoàn toàn bình thường trong tiếp nhận văn học. Nhưng có một vấn đề mà hầu hết các ý kiến đều đánh giá cao đó là văn tài và những hoạt động của Khái Hưng đã góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển của Tự lực văn đoàn.
 
Ngoài Nhất Linh và Khái Hưng, Hoàng Đạo cũng là nhà văn được các nhà lý luận - phê bình văn học ở đô thị miền Nam đề cập đến. Song nếu ở Khái Hưng hay các nhà văn khác của văn đoàn thường được các nhà nghiên cứu chú ý đánh giá ở lĩnh vực sáng tác văn học thì ở Hoàng Đạo, người ta thường quan tâm đến những cải cách xã hội trong tư tưởng của ông qua cuốn Mười điều tâm niệm. Chính vì vậy, khi đánh giá về Hoàng Đạo, Thế Uyên cho rằng: “Hoàng Đạo là nhà văn hóa hơn là nhà văn – Nếu hiểu nhà văn là người sáng tác văn nghệ như truyện ngắn, truyện dài”. (18) Cũng trong xu hướng này khi nói về vai trò của Hoàng Đạo, trên tạp chí Giao Điểm số 1 ra ngày 15/1/1972, Dương Nghiễm Mậu cho rằng: “Hoàng Đạo đã viết Mười điều tâm niệm, một thứ tân ước cho lớp trí thức mới, ông đã kêu gọi thanh niên hành động bằng những tác phẩm như Bùn lầy nước đọng, Con đường sáng (...) Tất cả những tác phẩm này đều ở trong chiều hướng: phải đoạn tuyệt với nếp sống cũ, phải theo mới, phải phá bỏ những hủ tục, tự do cá nhân được đề cao, và sau đó là hướng đến một tranh đấu giải phóng dân tộc, cải tạo xã hội”. (19) Tất nhiên là sự cải tạo xã hội theo hướng cải lương chủ nghĩa kiểu Tự lực văn đoàn!?. Hay với sự đánh giá có tầm khái quát hơn, Phạm Thế Ngũ lại xem Hoàng Đạo là “người phát ngôn, nhà xã thuyết” (20) của Tự lực văn đoàn. Và có thể nói, đây cũng là những ý kiến của đa số các nhà lý luận - phê bình văn học ở đô thị miền Nam khi nhìn nhận về vai trò của Hoàng Đạo trong Tự lực văn đoàn.
 
Trong Tự lực văn đoàn, Thạch Lam tuy không nổi trội như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo về vai trò tổ chức để phát triển văn đoàn nhưng xét về mặt sáng tạo văn học, Thạch Lam là một nhà văn có vị trí đặc biệt, để lại dấu ấn sâu sắc và tỏa sáng nhất trong lòng người đọc. Vì vậy, ông cũng là nhà văn có số lượng bài viết khá nhiều trên sách, báo miền Nam. Vậy nên, Thế Uyên trong bài viết “Tìm kiếm Thạch Lam” trên Nguyên san Văn số 6 tháng 10/1968, đã khẳng định: “Thạch Lam là người viết văn hay hơn cả trong Tự lực văn đoàn. Đa số truyện ngắn của ông, gần đây tôi đọc còn thấy hay, xúc động trong khi tôi nhiều khi không thích thú khi đọc đa số truyện ngắn, truyện dài của Khái Hưng và Nhất Linh”. (21) Và để biện giải cho sự đánh giá của mình về cái hay hơn hẳn của văn chương Thạch Lam, Thế Uyên cho rằng: “có thể nói chất liệu văn chương Thạch Lam chỉ gồm có cuộc sống dĩ vãng và sự rung động của tâm hồn tác giả. Tưởng tượng chỉ giữ một vai trò nhỏ bé, khiêm nhường”. (22)
 
Cũng trong cảm hứng khẳng định giá trị tiềm ẩn trong những sáng tác và văn nghiệp của Thạch Lam, Dương Nghiễm Mậu trên tạp chí Giao Điểm (ngày 15/1/1972) đã thêm một lần xác quyết: “Thạch Lam là một nhà văn hạnh phúc, lúc đương thời cũng như nhiều năm tiếp theo, tác phẩm của Thạch Lam như một nhan sắc trầm chín, không trình diễn một bề mặt, không có son phấn, một nhan sắc không phô trương nơi phía tiền trường, đó là thứ nhan sắc tay ôm đàn che nửa mặt hoa khuất dấu ở hậu trường, ở buồng trong, nhưng là một thứ nhan sắc có thật, chịu đựng được thời gian và thứ ánh sáng soi bói lục lọi (...) Văn chương Thạch Lam là một cái gì toàn thể, nhưng bàn bạc nhẹ nhàng, nó không hề là những luận đề lớn lao, những tư tưởng kỳ lạ, ở Thạch Lam những cái gì còn để lại cho chúng ta, những tác phẩm ấy thường chỉ như một bức tranh thủy mạc với những nét chấm phá nhưng là những nét chấm phá chi li”. (23) Và điều làm cho Dương Nghiễm Mậu quí trọng đến ngạc nhiên về Thạch Lam là “tại sao Thạch Lam không bị  lôi cuốn vào dòng văn chương Tự lực văn đoàn, hay nói khác đi, những tư tưởng về xã hội tranh đấu của những người như Nhất Linh, Hoàng Đạo sao không có ảnh hưởng tới Thạch Lam”. (24)
 
Điều nầy đã lý giải vì sao văn chương Thạch Lam lại có vị trí đặc biệt trong lòng người đọc so với các nhà văn trong Tự lực văn đoàn. Và chính sự khác biệt nầy đã làm nên giá trị của văn nghiệp Thạch Lam, cũng như tạo nên sự vĩnh hằng cho tác phẩm của ông trong lòng người đọc. Bởi lẽ, qui luật giá trị của văn chương không bao giờ tồn tại trong lối tư duy minh họa, dù sự minh họa đó có nhân danh một lý tưởng nào đi nữa thì số phận của văn chương minh họa bao giờ cũng đoản mệnh. Và điều này đã góp phần lý giải vì sao những tiểu thuyết mang tính luận đề của văn chương Tự lực văn đoàn được viết bởi Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo lại không có được đời sống dài lâu là vì thế. Có lẽ, đây cũng là điểm hạn chế của Tự lực văn đoàn. Và chính điều này, thêm một lần nữa thức nhận trong chúng ta một cái nhìn khoa học và nhân bản hơn về giá trị của tác phẩm văn chương trong nền văn học của dân tộc.
Văn chương bao giờ cũng là văn chương của mọi thời chứ không phải là văn chương của một thời. Sự bất tử của những tác phẩm văn chương ở nước ta cũng như thế giới mà chúng ta biết đã xác tín cho chân lý này. Đó là những tác phẩm văn chương đã chạm đến những vấn đề sâu xa nhất, tế vi nhất của cõi nhân sinh. Nó vượt qua những giới hạn của bầu khí quyển giai cấp tính, dân tộc tính để vươn đến những giá trị nhân văn mang tầm nhân loại. Văn chương Thạch Lam phải chăng cũng là thứ văn chương mang những rung động thao thiết của phận người, thức nhận trong ta những phẩm chất Người qua “những lời thủ thỉ” (25) nhẹ nhàng mà day dứt trong sáng tác của ông.
 
Có thể nói, Thạch Lam là một trong không nhiều nhà văn của Tự lực văn đoàn viết khá toàn diện với nhiều thể loại từ truyện ngắn, bút ký, tiểu thuyết và phê bình văn học... Và ở lĩnh vực nào ông cũng có những thành công nhất định. Nhưng điều làm nên nhân cách văn hóa Thạch Lam, văn nghiệp Thạch Lam và dấu ấn Thạch Lam trong lòng người đọc và trên văn đàn, theo chúng tôi không chỉ là ở tài năng văn chương của ông mà cái chính là ở nỗi “đau đớn lòng” của ông trước “những điều trông thấy” (ý thơ Nguyễn Du trong Truyện Kiều) trước những dâu bể của cuộc đời. Để rồi ông luôn tự vấn lòng mình, luôn đấu tranh với chính mình trước cái ác, cái xấu, cái đê tiện, cái thấp hèn của con người mà nhiều khi ranh giới ấy chỉ mong manh như một “sợi tóc” (tên một truyện ngắn của TL). Chính vì vậy, theo Vũ Bằng thì Thạch Lam là một nhà tư tưởng, chứ không phải là một người hành động vì: “sống trong đám người đi lại bình thường, hồn nhiên nhưng quằn quại, nhục nhằn, đau khổ, Thạch Lam yêu họ như yêu mình. Một người như thế không thể là một nhà lý thuyết, cũng không thể là một người hành động, mà chỉ có thể là một nhà tư tưởng, như chim đường Nga kia đêm tăm bay mỏi, lấy mỏ rút ruột của mình ra để nuôi một đàn con đói”. (26)
 
Vâng! linh hồn của văn chương chính là tư tưởng, một thứ tư tưởng mang tầm cao triết học thấm đẫm chất nhân văn. Và cái làm nên giá trị của văn chương Thạch Lam cũng chính là tư tưởng trong các tác phẩm của ông. Đó là tư tưởng đầy tính nhân bản, không hề xu phụ cho một thứ chủ nghĩa nào, luận thuyết nào ngoài tấm lòng yêu thương những con người “quằn quại, nhục nhằn, đau khổ” và “Thạch Lam yêu họ như yêu mình” mà Vũ Bằng đã khẳng định. Có thể xem những đánh giá trên cũng là những ý kiến khá tiêu biểu cho sự thống nhất của lý luận - phê bình văn học ở đô thị miền Nam khi đánh giá về Thạch Lam và tác phẩm của ông.
 
Như vậy, khi nghiên cứu về từng tác giả, tác phẩm của Tự lực văn đoàn, các nhà lý luận - phê bình văn học ở miền Nam không những chỉ ra nét riêng của từng nhà văn, từng tác phẩm mà còn phân tích một cách sâu sắc, khách quan về những đóng góp độc đáo của mỗi người, để làm nên một văn đoàn đa dạng phong phú với những thành tựu đáng được ghi nhận, góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền văn học và văn hóa dân tộc.
 
3. Lý luận - phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954 – 1975 là một nền lý luận - phê bình với nhiều khuynh hướng, nhiều trường phái khác nhau vô cùng đa dạng và phong phú. Điều đó cũng thể hiện khá rõ qua những công trình nghiên cứu của các nhà lý luận - phê bình văn học đô thị miền Nam về Tự lực văn đoàn được đăng tải trên rất nhiều sách, báo mà chúng tôi đã điểm qua trong bài viết. Đây cũng là điều khác biệt với cái nhìn khá thống nhất của các nhà lý luận - phê bình văn học ở miền Bắc trong cùng thời kỳ khi những nhà văn, những tác phẩm của Tự lực văn đoàn cũng như phong trào Thơ mới được / bị họ xem là những tác phẩm đồi trụy, phản động, buồn rơi, mộng rớt, bị loại khỏi đời sống văn học của dân tộc trong nhiều năm liền và chỉ thật sự được phục sinh từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới.
 
Vì vậy, dù còn có những ý kiến khác nhau và có những nhận định, đánh giá về Tự lực văn đoàn trong lý luận - phê bình văn học ở đô thị miền Nam cũng cần được xem xét lại một cách công tâm và khoa học. Nhưng phải thừa nhận rằng: Tự lực văn đoàn và những tác giả, tác phẩm tiêu biểu của trào lưu này đã thu hút sự quan tâm khá nhiều của các cây bút lý luận - phê bình văn học đô thị miền Nam. Và quan điểm của các nhà lý luận - phê bình văn học ở miền Nam đều có sự thống nhất cao trong việc khẳng định vị trí của Tự lực văn đoàn trong văn học sử. Đặc biệt là việc đóng góp của nó trong lĩnh vực văn học, báo chí, xuất bản, nhằm hiện đại hóa nền văn học dân tộc. Những ý kiến ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị và là những tư liệu quí gợi mở cho chúng ta nhiều vấn đề để tiếp tục nghiên cứu về hiện tượng văn học độc đáo này trong tiến trình văn học dân tộc.
 
           Ngày nay, những tác phẩm của Tự lực văn đoàn không còn là vùng cấm. Không những thế nó còn liên tục được tái bản, được đưa vào giảng dạy, được hiện hữu trong các luận văn, luận án ở nhà trường. Điều đó đã là một minh chứng hùng hồn cho sức sống của trào lưu Tự lực văn đoàn với những giá trị mà nó đem đến cho văn học dân tộc đúng như Dương Nghiễm Mậu đã khẳng định: “Nhìn lại văn chương tiền chiến, cho đến nay những nhà phê bình văn học đều nói đến một chỗ đứng rất lớn lao của Tự lực văn đoàn, họ đã làm thành một biến cố, ghi dấu một thời đại, văn chương Tự lực văn đoàn thực đã là một giai đoạn có thật trong văn học sử” (27) nên không thể phủ nhận nó, vứt nó ra khỏi đời sống văn học dù với bất cứ lý do nào. Rõ ràng, hiện tượng Tự lực văn đoàn là một giá trị, một hiện hữu không thể phủ định. Vì từ điểm nhìn của mỹ học tiếp nhận, người đọc là người đồng sáng tạo với nhà văn. Tác phẩm văn học chỉ tồn sinh khi được người đọc tiếp nhận và sẽ mất đi khi người đọc quay lưng với nó.
          Chân lý của mọi giá trị văn chương có lẽ cũng bắt đầu từ đó!?
 
Chú thích:
(1), (10), (15), (20) Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên tập 3, văn học hiện đại (1862 - 1945), Quốc học tùng thư xuất bản, Sài Gòn 1962, tr.430, tr.497, tr.479, tr.423
(2), ( 3), (19), (23), (24), (27) Dương Nghiễm Mậu “Số chuyên đề về Thạch Lam”, Giao điểm số 1,  ra ngày 15/01/1972, tr. 35, tr.35, tr.35, tr.34, tr.34, tr.35
(5), (11), (17)  Lê Huy Oanh,  Thời tập số ra ngày 16/9/1974, tr.16, tr.17,  tr. 17
(6) Thế Phong,  Lược sử văn nghệ Việt Nam, nhà văn tiền chiến 1930-1945 (Nhận định văn học), Vàng son xuất bản, Sài Gòn 1974, tr 108.
(4), (18), (21), (22) Thế Uyên, “ Tìm kiếm Thạch Lam”, Nguyên san Văn uyển số 6 tháng 10/1968, tr.24, tr.80,  tr.58,  tr.59
(7) Nhiều tác giả, “Thảo luận về Văn nghệ Tiền chiến ở Việt Nam”, Sáng tạo số tháng 10/1960, tr.4
(Cool Nguyễn Sĩ Tế, “Thảo luận về nhân vật trong tiểu thuyết”, Sáng tạo số1, tháng 7/1960, tr.15
(9) Nguyễn Văn Xuân, “Từ phong trào Duy Tân đến Tự lực văn đoàn”, Văn số 107 + 108 ra ngày 15/6/1968, tr.61
(12), (13), (14) Huỳnh Phan Anh, Đi tìm tác phẩm văn chương (tiểu luận phê bình), Đồng Tháp xuất bản, Sài Gòn, 1972,  tr 130, tr.130, tr.131,
( 16)  Tam Ích, Ý văn I, Lá Bối xuất bản,  Sài Gòn,1967, tr.101
(25) Đào Trường Phúc, “Số chuyên đề về Thạch Lam”, Giao điểm số 1, ngày 15/01/1972, tr. 35
 (26) Vũ Bằng, “Số chuyên đề về Thạch Lam”, Giao điểm số 1, ngày 15/01/1972, tr. 25
     * Bài viết nhân 80 năm Tự lực Văn đoàn và phong trào Thơ mới ( 1932 – 2012)
 
                               Trần Hoài Anh
                      Trường Đại học Văn hóa Tp. Hồ Chí Minh 
   
*Mọi thư từ liên lạc với tác giả xin gởi về địa chỉ: Trần Hoài Anh
NR:   71/781A Lê Đức Thọ, P.6, Quận Gò Vấp, TP. Hồ chí Minh
 


Được sửa bởi phannguyenquoctu ngày Mon Jun 24, 2013 7:30 pm; sửa lần 2.

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thầy Trần Hoài Anh

Bài gửi  phannguyenquoctu on Sun Jun 23, 2013 12:24 am

Ngày nay, những tác phẩm của Tự lực văn đoàn không còn là vùng cấm. Không những thế nó còn liên tục được tái bản, được đưa vào giảng dạy, được hiện hữu trong các luận văn, luận án ở nhà trường. Điều đó đã là một minh chứng hùng hồn cho sức sống của trào lưu Tự lực văn đoàn với những giá trị mà nó đem đến cho văn học dân tộc đúng như Dương Nghiễm Mậu đã khẳng định: “Nhìn lại văn chương tiền chiến, cho đến nay những nhà phê bình văn học đều nói đến một chỗ đứng rất lớn lao của Tự lực văn đoàn, họ đã làm thành một biến cố, ghi dấu một thời đại, văn chương Tự lực văn đoàn thực đã là một giai đoạn có thật trong văn học sử” (27) nên không thể phủ nhận nó, vứt nó ra khỏi đời sống văn học dù với bất cứ lý do nào. Rõ ràng, hiện tượng Tự lực văn đoàn là một giá trị, một hiện hữu không thể phủ định. Vì từ điểm nhìn của mỹ học tiếp nhận, người đọc là người đồng sáng tạo với nhà văn. Tác phẩm văn học chỉ tồn sinh khi được người đọc tiếp nhận và sẽ mất đi khi người đọc quay lưng với nó.
          Chân lý của mọi giá trị văn chương có lẽ cũng bắt đầu từ đó!?

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thầy Trần Hoài Anh

Bài gửi  phannguyenquoctu on Mon Aug 11, 2014 9:46 pm


phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thầy Trần Hoài Anh

Bài gửi  phannguyenquoctu on Mon Aug 11, 2014 9:59 pm


phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thầy Trần Hoài Anh

Bài gửi  phannguyenquoctu on Mon Aug 18, 2014 12:26 pm


phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Thầy Trần Hoài Anh

Bài gửi  Sponsored content Today at 10:40 pm


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết