Thống Kê
Hiện có 1 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 1 Khách viếng thăm :: 1 Bot

Không

[ View the whole list ]


Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 60 người, vào ngày Sat Jun 02, 2012 10:53 pm
Latest topics
» 20 - 11 - 2016
Sat Nov 19, 2016 4:25 pm by TLT

» Những tình khúc vượt thời gian
Wed Nov 16, 2016 1:17 am by phannguyenquoctu

» hãy trả lời em....
Wed Nov 09, 2016 12:40 pm by phannguyenquoctu

» Khế
Tue Nov 08, 2016 11:38 pm by phannguyenquoctu

» Vật lý phổ thông - web hay
Sat Nov 05, 2016 9:03 pm by phannguyenquoctu

» Thầy Ngoạn Cô Hoa
Fri Nov 04, 2016 1:05 pm by phannguyenquoctu

» Kỹ năng cho trẻ
Mon Oct 24, 2016 10:25 am by phannguyenquoctu

» 87TuNghia thăm mẹ bạn Phan Văn Hồng
Tue Oct 04, 2016 10:18 am by TLT

» Cáo phó (28/9/2016) ông Già bạn Nhật qua đời
Tue Oct 04, 2016 10:11 am by TLT

» Cáo phó: Mẹ bạn Lê Tuấn Phát C5 qua đời 18/9/2016
Wed Sep 28, 2016 4:54 pm by TLT

» Phim hành động, võ thuật tổng hợp
Wed Sep 28, 2016 12:39 am by phannguyenquoctu

» Cáo phó: Cha vợ của Phan Nguyễn Quốc Tú qua đời 15/9/2016
Sun Sep 18, 2016 11:18 am by TLT

» Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Wed Sep 14, 2016 12:43 am by phannguyenquoctu

» Khai giảng 2016 - 2017
Wed Sep 07, 2016 4:14 pm by TLT

» Cáo phó (25/7/2016): Cụ Ông cha của bạn Lê Văn Giàu qua đời
Wed Jul 27, 2016 9:57 am by TLT

» Bạn Phan Tấn Hoàng mãi ở lại trong lòng gia đình, người thân, của 87TuNghia và bạn bè thân hữu
Sat Jul 23, 2016 4:01 pm by phannguyenquoctu

» Phương pháp học tập siêu tốc
Wed Jun 29, 2016 10:43 am by phannguyenquoctu

» Mạc Đĩnh Chi
Mon Jun 27, 2016 10:18 pm by phannguyenquoctu

» 4 cách tự kiểm tra sức khỏe tại nhà chỉ mất một phút
Fri Jun 24, 2016 2:52 pm by phannguyenquoctu

» Kỹ năng tổng hợp
Sun Jun 12, 2016 9:53 pm by phannguyenquoctu

» Clip những bức ảnh biết chuyển động kỳ diệu
Sun Jun 05, 2016 3:59 am by phannguyenquoctu

» Điều gì xảy ra nếu bạn ăn hoa chuối
Sat Jun 04, 2016 8:19 pm by phannguyenquoctu

» Tự chữa tiểu đường từ lời một chân tu: Bạn có đoán được tên phương pháp này?
Tue May 31, 2016 12:03 pm by phannguyenquoctu

» Phan Nguyễn Quốc Tú - Hè 2014
Fri May 27, 2016 3:14 pm by TLT

» Bế giảng năm học 2015-2016
Fri May 27, 2016 3:06 pm by TLT

Top posting users this week

Top posting users this month

Top posters
phannguyenquoctu (6171)
 
TLT (2016)
 
letansi (1008)
 
le huu sang (320)
 
lamkhoikhoi (299)
 
pthoang (257)
 
luck (220)
 
sóng cát trùng dương (209)
 
hatinhve (181)
 
Admin (156)
 

December 2016
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031 

Calendar Calendar


Hoa hòe

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Hoa hòe

Bài gửi  phannguyenquoctu on Sat Jul 18, 2015 10:43 pm

Công năng & tác dụng của hoa hòe


 
Công năng của hoa hòe: Lương huyết chỉ huyết, thanh can tả hoả.
– Tác dụng cầm máu: Hoa hòe có tác dụng rút ngắn thời gian chảy máu, sao thành than tác dụng càng tăng.
– Tác dụng với mao mạch: giảm bớt tính thẩm thấu của mao mạch và làm tăng độ bền của thành mao mạch.
– Tác dụng của thuốc đối với hệ tim mạch: chích tĩnh mạch chó được gây mê dịch Hoa hòe, huyết áp hạ rõ rệt. Thuốc có tác dụng hưng phấn nhẹ đối với tim cô lập ếch và làm trở ngại hệ thống truyền đạo. Glucosid vỏ hòe có tác dụng làm tăng lực co bóp của tim cô lập và tim tại thể của ếch. Hòe bì tố cótác dụng làm giãn động mạch vành.
– Tác dụng hạ mỡ trong máu: Hòe bì tố có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu của gan và ở cửa động mạch. Đối với xơ mỡ động mạch thực nghiệm, thuốc có tác dụng phòng trị.
– Tác dụng chống viêm: đối với viêm khớp thực nghiệm của chuột lớn và chuột nhắt, thuốc có tác dụng kháng viêm.
– Tác dụng chống co thắt và chống lóet: Hòe bì tố có tác dụng giảm trương lực cơ trơn của đại tràng và phế quản. Tác dụng chống co thắt của Hòe bì tố gấp 5 lần của Rutin. Rutin có tác dụng làm giảm vận động bao tử của chuột lớn, làm giảm bớt rõ rệt só ổ lóet của bao tử do thắt môn vị của chuột.
– Tác dụng chống phóng xạ: Rutin làm giảm bớt tỷ lệ tử vong của chuột nhắt do chất phóng xạ với liều chí tử.
– Rutin có tác dụng phòng ngừa tổn thương do đông lạnh thực nghiệm: đối với tổn thương độ 3 càng rõ, đối với độ 1 và 2 cũng có tác dụng.
– Tác dụng chống tiêu chảy: nước Hoa hòe bơm vào ruột của thỏ kích thích niêm mạc ruột sinh chất tiết dịch có tác dụng làm giảm tiêu chảy.
Thành phần hoá học: Flavonoid, Nụ hoa Hoè chứa rutin, có thể đạt tới 34%. Còn có bertulin, sophoradiol, sophorin A, sophorin B và sophorin C. Vỏ quả chứa 10,5% flavonoid toàn phần và một số dẫn xuất như genistein, sophoricosid, sophorabiosid, kaempferol, glucosid C, rutin 4,3%. Hạt Hoè chứa 1,75% flavonoid trong đó có rutin 0,5%, một số alcaloid, cytisin, N-methyl cytisin, sophocarmin, matrin. Ngoài ra còn có 8-24% chất béo và galactomanan.
 
Công dụng:
+ Nụ hoa hoè sao đen : Các chứng chảy máu, chảy máu cam, ho ra máu, băng huyết, đại tiểu tiện ra máu, đau đầu, chóng mặt, mắt đỏ, dễ cáu gắt.
+ Nụ hoa sống chữa cao huyết áp, đau mắt. Ngày dùng 8 – 16g dạng thuốc hãm hoặc sắc.
+ Chiết xuất rutin, bào chế theo y học hiện đại. (Viên rutin C).
+ Quả hoè có công dụng gần như hoa nhưng có thể gây ra thai.
Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 8-10g, dạng thuốc hãm hoặc sắc, hoặc dùng 0,5-3g dạng bột hoặc viên. Quả sao tồn tính chữa đại tiện ra máu.
Bài thuốc:
1. Chữa các loại xuất huyết, đi lỵ ra máu, bệnh trĩ, đi ngoài ra máu: dùng hoa Hoè (sao qua) 10-15g, hoặc dùng quả Hoè 8-12g sắc uống hoặc dùng hoa hoè sao đen 20g, Địa du sao đen 10g, Diếp cá 12g, nước 300ml, sắc còn 200ml.
2. Chữa người có huyết áp cao, đầu choáng váng, ngón tay hơi tê, đầu óc căng thẳng, thần kinh suy nhược, mắt đau sợ chói, khó ngủ: Hoè hoa sao, hạt Muỗng sao, hai loại bằng nhau, tán bột, mỗi lần uống 5g, ngày dùng 10-20g; hoặc dùng riêng mỗi vị 10g hãm uống thay chè.
3. Chữa sốt xuất huyết khi sốt đã lui mà còn xuất huyết nhẹ, chảy máu dưới da, hay trẻ em thường đổ máu mũi, chảy máu chân răng; trằn trọc khó ngủ: Cũng dùng Hoè hoa sao và hạt Muồng sao, tán bột, ngày dùng 10-20g; hoặc sắc 10g quả Hoè uống.
4. Chữa trĩ bị sưng đau: Quả Hoè phối hợp với Khổ sâm, lượng bằng nhau, nghiền thành bột hoà với nước bôi ngoài.
Theo – Vườn nhà thuốc


Được sửa bởi phannguyenquoctu ngày Fri Jul 24, 2015 5:20 pm; sửa lần 4.

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Hoa hòe

Bài gửi  phannguyenquoctu on Fri Jul 24, 2015 12:58 pm

Hoa Hòe Thanh Nhiệt, Trị Tăng Huyết Áp

Cây hoa hòe còn được gọi là hòe mễ, hòe hoa mễ, hòe hoa. Cây cao 7-10m, có khi tới 25m, nhánh nhỏ màu xanh lục, có lông hoặc không có lông. Lá lông chim lẻ, mọc so le. Hoa nhỏ màu trắng xanh, mọc thành chùm ở ngọn, quả đậu thắt lại ở giữa các hạt. Cây sống lâu, sau 3-4 năm mới thu hoạch được hoa. Mùa hoa từ tháng 7-9 âm lịch. Trong nhân dân thường dùng hoa hòe phơi hãm làm nước uống giải nhiệt.
[img(349.66666662693024px,359.66666662693024px)]http://www.thanhnhiet.com/wp-content/uploads/2013/05/thanh-nhiet-01.jpg[/img]
Theo quan niệm của y học cổ truyền, hoa hòe vị đắng, tính hơi hàn (khí lạnh mà trầm) quy kinh can, đại tràng, có công năng lương huyết, chỉ huyết, dùng trong các trường hợp huyết nhiệt, có tác dụng cầm máu rất tốt, điều trị các bệnh đại tiện ra máu, chảy máu cam hoặc ho ra máu, phụ nữ rong kinh… Ngoài ra, hoa hòe còn có tác dụng điều trị bệnh tăng huyết áp trong vữa xơ động mạch, điều trị sau tai biến mạch máu não…
Thông thường trong Đông y sử dụng nụ non (hoa chưa nở) mới có tác dụng làm thuốc. Lúc này hoa có hàm lượng rutin cao nhất (trong hoa hòe có từ 6-30% rutin). Nếu hoa đã nở, hàm lượng rutin giảm rõ rệt nên chất lượng dược liệu cũng giảm. Khi thu hái về phơi khô hoặc sấy lửa than vàng, có mùi thơm dễ chịu. Đôi khi người ta còn dùng cả quả cây hoa hòe gọi là hòe giác, có vị đắng, tính hàn. Có công dụng thanh can đởm, trừ phong, lương huyết, dùng sắc uống trong các trường hợp tỳ vị nhiệt, chảy nhiều dãi, trị mụn nhọt, mộng tinh. Lá hòe, dùng lá tươi, sắc đặc tắm khi bị ngứa, lở, dị ứng.
Sau đây là một số bài thuốc từ hoa hòe:
Bài 1: Chữa tăng huyết áp: Hoa hòe 10g, lá sen 10g, ngó sen 5g, cúc hoa vàng 4g. Cho 400ml nước sắc còn 100ml, sắc 2 lần uống trong ngày. Mỗi liệu trình 7-10 ngày.
Bài 2:Chữa nhức đầu vào mùa nắng, nóng: Hoa hòe sao thơm 10g, hạt muồng (thảo quyết minh) sao đen 20g, cúc hoa 5g hãm với nước sôi, thêm đường cho ngọt uống trong ngày thay nước chè.
Bài 3: Chữa đại tiện ra máu do nóng, trĩ chảy máu: Hoa hòe 10g phối hợp với trắc bá 10g hai vị sao cháy, kinh giới 10g. Cho 400ml nước sắc còn 100ml, sắc 2 lần uống trong ngày. Dùng liền 3-5 ngày.
Bài 4: Chữa sốt xuất huyết khi sốt đã lui mà còn xuất huyết nhẹ, chảy máu chân răng: Nụ hòe 10g sao cháy. Cho 400ml nước sắc còn 100ml, sắc 2 lần uống trong ngày. Dùng từ 5-7 ngày.
Bài 5: Chữa rong kinh: Hoa hòe lâu năm 30g, bách thảo sương 15g, tán bột, uống mỗi lần 9g. Dùng 3-5 ngày.
Lưu ý: Hoa hòe tính hơi lạnh nên những người tỳ vị hư hàn (hay đau bụng do lạnh, ăn kém, chậm tiêu, đại tiện thường xuyên lỏng nát) không được dùng vị thuốc này, nếu cần dùng thì phải phối hợp với các dược liệu có tính ấm nóng. Do vậy, muốn sử dụng có hiệu quả phải được các lương y có uy tín bắt mạch và bốc thuốc.
Bác sĩ Trần Thị Hải – suckhoedoisong.vn
http://www.thanhnhiet.com/hoa-hoe-thanh-nhiet-tri-tang-huyet-ap.html





phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Hoa hòe

Bài gửi  phannguyenquoctu on Fri Jul 24, 2015 12:59 pm

Hòe
Hòe - Sophora japonica L. f. thuộc họ Đậu - Fabaceae
Mô tả: Cây nhỡ cao 5-6m, thân cành nhẵn, màu lục nhạt, có những chấm trắng. Lá kép lông chim lẻ, mọc so le, gồm 11-17 lá chét mọc đối, hình bầu dục thuôn, dài 30-45mm, rộng 12-20mm, mặt dưới hơi có lông, hoa nhỏ, màu trắng hay vằn lục nhạt, mọc thành chùm ở đầu cành. Quả đậu thắt eo ở khoảng giữa các hạt thành một chuỗi lúc khô thì nhăn nheo, màu đen nâu, chia 2-5 đốt chứa 2-5 hạt hình bầu dục, hơi dẹt, màu đen bóng.
Mùa hoa tháng 5-8, mùa quả tháng 9-10.  
Bộ phận dùng: Nụ hoa - Flos Sophorae lmmaturus, thường gọi là Hoè mễ: Hoa hoè - Flos Sophorae, hay Hoè hoa; và quả Hoè - Fructus Sophorae, hay Hoè giác.
Nơi sống và thu hái: Hoè được trồng từ lâu đời làm cây cảnh và cây thuốc ở nước ta, ở Nhật Bản, Trung Quốc (Hải Nam) và một số nơi khác ở Đông Nam Á. Ở nước ta, Hoè được phát triển trồng nhiều ở Thái Bình, Hà Bắc, Nam Hà, Hải Phòng, Hải Hưng, Nghệ An và gần đây ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Người ta trồng Hoè bằng hạt hoặc giâm cành vào mùa xuân. Sau 3-4 năm bắt đầu thu hoạch, cây càng sống lâu càng cho nhiều hoa. Hái hoa lúc còn nụ, phơi hay sấy khô; dùng sống hay sao hơi vàng để pha nước uống, hoặc cho vào nồi đất đun to lửa, sao cháy tồn tính (80%) để cầm máu. Quả hái vào tháng 9-11, rửa sạch, đồ mềm, phơi hay sấy khô; dùng sống hay có thể sao qua. Khi dùng giã giập.
Thành phần hóa học: Nụ hoa Hoè chứa rutin, có thể đạt tới 34%. Còn có bertulin, sophoradiol, sophorin A, sophorin B và sophorin C. Vỏ quả chứa 10,5% flavonoid toàn phần và một số dẫn xuất như genistein, sophoricosid, sophorabiosid, kaempferol, glucosid C, rutin 4,3%. Hạt Hoè chứa 1,75% flavonoid trong đó có rutin 0,5%, một số alcaloid, cytisin, N-methyl cytisin, sophocarmin, matrin. Ngoài ra còn có 8-24% chất béo và galactomanan.
Tính vị, tác dụng: Nụ hoa Hoè có vị đắng nhạt, mùi thơm, tính bình; quả Hoè có vị đắng, tính mát, đều có tác dụng hạ nhiệt, mát huyết, cầm máu, sáng mắt, bổ não. Ngày nay ta biết được các tác dụng làm giảm tính thẩm thấu của các mao quản, tác dụng kháng chiếu xạ, tác dụng hạ huyết áp. Hoa Hoè có tác dụng lương huyết, chỉ huyết.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Nụ hoa sao đem chữa xuất huyết, cháy máu cam, ho ra máu, băng huyết, trĩ cháy máu, xích bạch lỵ. Nụ hoa dùng uống chữa đau mắt, cao huyết áp, phòng ngừa đứt mạch máu não. Ngày dùng 8-10g, dạng thuốc hãm hoặc sắc, hoặc dùng 0,5-3g dạng bột hoặc viên. Quả sao tồn tính chữa đại tiện ra máu.
Ngày dùng 6-12g dạng thuốc hãm hay sắc.
Đơn thuốc:
1. Chữa các loại xuất huyết, đi lỵ ra máu, bệnh trĩ, đi ngoài ra máu: dùng hoa Hoè (sao qua) 10-15g, hoặc dùng quả Hoè 8-12g sắc uống hoặc dùng hoa hoè sao đen 20g, Địa du sao đen 10g, Diếp cá 12g, nước 300ml, sắc còn 200ml.
2. Chữa người có huyết áp cao, đầu choáng váng, ngón tay hơi tê, đầu óc căng thẳng, thần kinh suy nhược, mắt đau sợ chói, khó ngủ: Hoè hoa sao, hạt Muỗng sao, hai loại bằng nhau, tán bột, mỗi lần uống 5g, ngày dùng 10-20g; hoặc dùng riêng mỗi vị 10g hãm uống thay chè.
3. Chữa sốt xuất huyết khi sốt đã lui mà còn xuất huyết nhẹ, chảy máu dưới da, hay trẻ em thường đổ máu mũi, chảy máu chân răng; trằn trọc khó ngủ: Cũng dùng Hoè hoa sao và hạt Muồng sao, tán bột, ngày dùng 10-20g; hoặc sắc 10g quả Hoè uống.
4. Chữa trĩ bị sưng đau: Quả Hoè phối hợp với Khổ sâm, lượng bằng nhau, nghiền thành bột hoà với nước bôi ngoài.
http://www.lrc-hueuni.edu.vn/dongy/show_target.plx?url=/thuocdongy/H/Hoe.htm&key=&char=H

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Hoa hòe

Bài gửi  phannguyenquoctu on Fri Jul 24, 2015 1:02 pm

Tìm hiểu công năng và
tác dụng chữa bệnh của hoa hòe



Công năng của hoa hòe: Lương huyết chỉ huyết, thanh can tả hoả.
– Tác dụng cầm máu: Hoa hòe có tác dụng rút ngắn thời gian chảy máu, sao thành than tác dụng càng tăng.
– Tác dụng với mao mạch: giảm bớt tính thẩm thấu của mao mạch và làm tăng độ bền của thành mao mạch.
– Tác dụng của thuốc đối với hệ tim mạch: chích tĩnh mạch chó được gây mê dịch Hoa hòe, huyết áp hạ rõ rệt. Thuốc có tác dụng hưng phấn nhẹ đối với tim cô lập ếch và làm trở ngại hệ thống truyền đạo. Glucosid vỏ hòe có tác dụng làm tăng lực co bóp của tim cô lập và tim tại thể của ếch. Hòe bì tố cótác dụng làm giãn động mạch vành.
– Tác dụng hạ mỡ trong máu: Hòe bì tố có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu của gan và ở cửa động mạch. Đối với xơ mỡ động mạch thực nghiệm, thuốc có tác dụng phòng trị.
– Tác dụng chống viêm: đối với viêm khớp thực nghiệm của chuột lớn và chuột nhắt, thuốc có tác dụng kháng viêm.
– Tác dụng chống co thắt và chống lóet: Hòe bì tố có tác dụng giảm trương lực cơ trơn của đại tràng và phế quản. Tác dụng chống co thắt của Hòe bì tố gấp 5 lần của Rutin. Rutin có tác dụng làm giảm vận động bao tử của chuột lớn, làm giảm bớt rõ rệt só ổ lóet của bao tử do thắt môn vị của chuột.
– Tác dụng chống phóng xạ: Rutin làm giảm bớt tỷ lệ tử vong của chuột nhắt do chất phóng xạ với liều chí tử.
– Rutin có tác dụng phòng ngừa tổn thương do đông lạnh thực nghiệm: đối với tổn thương độ 3 càng rõ, đối với độ 1 và 2 cũng có tác dụng.
– Tác dụng chống tiêu chảy: nước Hoa hòe bơm vào ruột của thỏ kích thích niêm mạc ruột sinh chất tiết dịch có tác dụng làm giảm tiêu chảy.
Thành phần hoá học: Flavonoid, Nụ hoa Hoè chứa rutin, có thể đạt tới 34%. Còn có bertulin, sophoradiol, sophorin A, sophorin B và sophorin C. Vỏ quả chứa 10,5% flavonoid toàn phần và một số dẫn xuất như genistein, sophoricosid, sophorabiosid, kaempferol, glucosid C, rutin 4,3%. Hạt Hoè chứa 1,75% flavonoid trong đó có rutin 0,5%, một số alcaloid, cytisin, N-methyl cytisin, sophocarmin, matrin. Ngoài ra còn có 8-24% chất béo và galactomanan.

Công dụng:
+ Nụ hoa hoè sao đen : Các chứng chảy máu, chảy máu cam, ho ra máu, băng huyết, đại tiểu tiện ra máu, đau đầu, chóng mặt, mắt đỏ, dễ cáu gắt.
+ Nụ hoa sống chữa cao huyết áp, đau mắt. Ngày dùng 8 – 16g dạng thuốc hãm hoặc sắc.
+ Chiết xuất rutin, bào chế theo y học hiện đại. (Viên rutin C).
+ Quả hoè có công dụng gần như hoa nhưng có thể gây ra thai.
Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 8-10g, dạng thuốc hãm hoặc sắc, hoặc dùng 0,5-3g dạng bột hoặc viên. Quả sao tồn tính chữa đại tiện ra máu.
Bài thuốc:
1. Chữa các loại xuất huyết, đi lỵ ra máu, bệnh trĩ, đi ngoài ra máu: dùng hoa Hoè (sao qua) 10-15g, hoặc dùng quả Hoè 8-12g sắc uống hoặc dùng hoa hoè sao đen 20g, Địa du sao đen 10g, Diếp cá 12g, nước 300ml, sắc còn 200ml.
2. Chữa người có huyết áp cao, đầu choáng váng, ngón tay hơi tê, đầu óc căng thẳng, thần kinh suy nhược, mắt đau sợ chói, khó ngủ: Hoè hoa sao, hạt Muỗng sao, hai loại bằng nhau, tán bột, mỗi lần uống 5g, ngày dùng 10-20g; hoặc dùng riêng mỗi vị 10g hãm uống thay chè.
3. Chữa sốt xuất huyết khi sốt đã lui mà còn xuất huyết nhẹ, chảy máu dưới da, hay trẻ em thường đổ máu mũi, chảy máu chân răng; trằn trọc khó ngủ: Cũng dùng Hoè hoa sao và hạt Muồng sao, tán bột, ngày dùng 10-20g; hoặc sắc 10g quả Hoè uống.
4. Chữa trĩ bị sưng đau: Quả Hoè phối hợp với Khổ sâm, lượng bằng nhau, nghiền thành bột hoà với nước bôi ngoài.
Theo – Vườn nhà thuốc

Liên Quan Khác


  • Bài thuốc giúp chữa bệnh tăng huyết áp hiệu quả từ hoa hòe
  • Những món ăn bài thuốc từ hoa hòe
  • Cây Chi Râu hùm giúp thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm chỉ thống, lương huyết tán ứ
  • Công dụng làm đẹp và làm thuốc tuyệt vời của hoa oải hương
  • Tắm trà giúp làm đẹp cơ thể, trẻ hóa làn da
  • Phụ nữ uống trà xanh tốt hơn nam giới như thế nào?
  • Những bộ phận dùng làm thuốc của cây Atiso
  • Một số bài thuốc dân gian từ cây chìa vôi
  • Những lợi ích từ cây chìa vôi
  • Việt quất là loại trái cây có nhiều công dụng trong y học
  • Những món ăn bồi bổ sức khỏe cho phụ nữ mang thai từ ích mẫu
  • Trà xanh có công dụng gì?
  • Kim ngân hoa giúp chữa chứng béo phì có kèm theo cao huyết áp
  • Ké đầu ngựa có tác dụng chữa các bệnh ngoài da
  • Uống chè xanh có thể chữa những bệnh nào?

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Hoa hòe

Bài gửi  phannguyenquoctu on Fri Jul 24, 2015 1:04 pm

HOA HÒE
 
Tên khác:
Hòe Thực (Bản Kinh), Hòe Nhụy (Bản Thảo Đồ Kinh), Hòe nhụy (Bản Thảo Chính), Thái dụng (Nhật Hoa Tử Bản Thảo), Hòe mễ, Hòe hoa mễ, Hoà trần mễ (Hòa Hán Dược Khảo), Hòe hoa thán, Hòe mễ thán, Hòe nga, Hòe giao, Hòe nhĩ, Hòe giáp (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). Hòe hoa, cây Hòe, Hoa hòe
Tác dụng:
+ Lương (làm mát) Đại trường nhiệt (Y Học Khải Nguyên).
+ Lương đại trường, sát cam trùng (Bản Thảo Chính).
+ Tiết Phế nghịch, tả Tâm hỏa, thanh Can hỏa, kiên Thận thủy (Y Lâm Toản Yếu).
+ Lương huyết, chỉ huyết, thanh lợi thấp nhiệt (Trung Dược Học).
+ Thanh nhiệt, lương huyết, chỉ huyết (Trung Dược Đại Từ Điển).
Chủ trị:
+ Trị năm loại trĩ, tâm thống, măt đỏ, trừ giun sán và nhiệt trong bụng, trị phong ngoài da, trường phong hạ huyết, xích bạch lỵ (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
+ Sao thơm, ăn được nhiều trị mất tiếng, họng đau, thổ huyết, chảy máu cam, băng trung lậu hạ (Bản Thảo Cương  Mục).
+ Trị tiêu ra máu, tiểu ra máu, chảy máu mũi (Bản Thảo Cầu Chân).
+ Trị tiểu đường và võng mạc mắt viêm (Đông Kinh Dược Vật Chí).
Liều dùng:  8-20g/ngày.
Kiêng kỵ:
+ Không có thực hỏa, thực nhiệt cấm dùng. Kỵ sắt (Trung Dược Học).
+ Bệnh do hư hàn, không có nhiệt: không dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Bảo quản: Dễ bị mốc. Cần để nơi khô ráo, thoáng gió.
Đơn thuốc kinh nghiệm:
+ Trị chảy máu không cầm: Hòe hoa, Ô tặc cốt, lượng bằng nhau, để nửa sống nửa sao, tán bột thổi vào (Phổ Tế Phương).
+ Trị thổ huyết không cầm: Hòe hoa đốt tồn tính, bỏ vào một tý Xạ hương vào, trộn đều. Mỗi lần dùng 12g uống với nước gạo nếp (Phổ Tế Phương).
+ Trị lưỡi chảy máu không cầm: Hòe hoa tán bột, xức vào (Chu Thị Tập Nghiệm Phương).
+ Trị ho ra máu, khạc ra máu: Hòe hoa sao, tán bột. Mỗi lần uống 12g với nước gạo nếp, cúi ngửa một lát thì đỡ  (Chu Thị Tập Nghiệm Phương).
+ Trị tiểu ra máu: Hòe hoa sao, Uất kim (nướng), mỗi thứ 1 lượng tán bột lần 8g với nước sắc Đậu xị (Bí Tàng Phương).
+ Trị đại tiện ra máu: Hòe hoa, Kinh giới tuệ, các vị bằng nhau tán bột, uống lần 4g với rượu (Kinh nghiệm phương), hoặc dùng Trắc bá diệp 3 chỉ, Hòe hoa 6 chỉ sắc uống hàng ngày (Tập giản phương).
+ Trị đại tiện ra máu: Hòe hoa, Chỉ xác, các vị bằng nhau sao tồn tính tán bột, lần uống 8g với nước (Tụ Trân Phương).
7- Trị sốt cao đột ngột tiêu ra máu: Ruột heo sống 1 cái rửa sạch phơi khô, lấy Hòe hoa sao tán bột bỏ đầy vào trong ruột heo, lấy giấm gạo ngâm trong hũ sành nấu chín, làm viên bằng hạt đạn lớn phơi nắng, mỗi lần uống 1 viên lúc đói với rượu ngâm Đương quy (Vĩnh Loại Kiềm Phương).
+ Trị đi tiêu ra máu do độc của rượu: Hòe hoa nửa sống nửa sao 40g, Sơn chi tử 20g,  tán bột uống lần 8g với nước (Kinh Nghiệm Lương Phương).
+ Trị lỵ ra máu, trĩ ra máu: Hòe hoa sao, tán bột, mỗi lần  uống 12g với rượu, ngày uống 3 lần hoặc dùng vỏ trắng của cây Hòe hoa sắc uống (Phổ tế phương).
+ Trị Rong kinh không cầm: Hòe hoa sao tồn tính, mỗi lần uống 8~12g với rượu nóng trước khi ăn (Thánh Huệ Phương).
+ Trị băng huyết không cầm:  Hòe hoa 120g, Hoàng cầm 80g, tán bột. Mỗi lần uống 20g với một chén rượu (Càn Khôn Bí Uẩn Phương).
+ Trị trúng phong mất tiếng: Hòe hoa sao, sau canh ba nằm ngửa nhai nuốt (Thế Y  Đắc Hiệu Phương).
+ Trị ung thư phát bối, nhiệt độc ở trong người, hoa mắt, đầu váng, miệng khô, lưỡi đắng, hồi hộp, lưng nóng, tay chân tê, có sưng ở sau lưng: Hòe hoa một mớ, sao cho thành mầu nâu đen, ngâm với một chén rượu con, lúc rượu còn đang nóng thì uống, nếu chưa đỡ, uống tiếp, sau khi uống thì nhọt sẽ nhúm mủ lại (Bảo Thọ Đường Phương).
+ Trị trĩ ngoại:  Hòe hoa sắc rửa nhiều lần và uống thì sẽ teo lên (Tập Giản Phương).
+ Trị độc nhọt lở sưng tấy, tất cả các loại ung nhọt phát bối, chẳng kể là có mủ hay chưa, nhưng có tấy sưng nóng đau: Hòe hoa sao qua, Hạch đào nhân đều 80g, Dấm 1 chén sắc uống. Nếu chưa đỡ thì uống 2 -3 lần, đã vỡ mủ thì uống 1 -2 lần thấy hiệu quả (Y Phương Trích Yếu Phương).
+ Trị phát bối tán huyết: Hòe hoa, Bột đậu xanh, mỗi thứ 40g sao như màu ngà voi, tán bột, dùng 40gTế trà sắc còn 1 chén, để ngoài sương một đêm, lấy 12g phết vào, chừa lỗ cho ra mủ (Nhiếp Sinh Diệu Dụng Phương).
+ Trị băng huyết, hạ huyết: Hòe hoa 40g, Tông lư thán 8g, Muối 1 ít, sắc với 3 chén nước còn nửa chén, uống (Trích Huyền Phương).
+ Trị bạch đới không dứt: Hòe hoa (sao), Mẫu lệ nung, các vị bằng nhau tán bột. Mỗi lần uống 12g với rượu (Trích Huyền Phương).
+ Trị độc dương mai và độc do dương minh tích nhiệt gây ra, dùng Hòe hoa 4 lượng sao qua bỏ vào 2 chén rượu sắc uống nóng, người bị hư hàn thì cấm dùng (Tập Giản Phương).
+ Trị thổ huyết: Hòe hoa 12g, Bách thảo sương 4g. Tán bột, uống với nước sắc rễ Tranh (Mao căn) (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị trường phong hạ huyết:  Hòe hoa, Trắc bá (đốt cháy), Chỉ xác đều 12g, Kinh giới 8g. Tán bột uống với nước hoặc làm thang tể. (đại tiện ra máu) (Hòe Hoa Tán - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị huyết áp cao: Hòe hoa, Hy thiêm thảo, mỗi thứ 20 ~ 40g. Sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung
 Dược Thủ Sách).
Tìm hiểu thêm
Tên khoa học:
Sophora japonica Linn.họ Fabaceae.
Mô tả:
Cây cao 7-10m, có khi tới 25m, nhánh nhỏ màu xanh lục, có lông hoặc không có lông. Lá lông chim lẻ, mọc so le, dài 15-25cm, lá chét 7-15 phiến, hình trứng hoặc hình trứng hẹp, dài 3-6cm, mép nguyên, mặt trên có lông và phấn trắng. Hoa nhỏ màu trắng xanh, mọc thành chùm ở ngọn, dài 15-30cm, quả đậu thắt lại ở giữa các hạt, chất nạc, chủng tử 1-6 hạt màu đen hình thận.Cây mọc hoang và được trồng khắp nơi trong nước ta, có nhiều ở miền Bắc Việt Nam. Trồng bằng hạt hoặc dâm cành.
Phân biệt:
Hoa hòe thường cánh hoa đã rơi rụng, nếu còn nguyên thì có 5 cánh hoa, mầu trắng vàng, rất mỏng, trong số đó hai cánh hoa tương đối to, hình gần tròn, đỉnh hơi lõm, cuộn lật ra phía ngoài, các cành hoa khác thì hình tròn dài. Phía dưới các cánh hoa có đài hoa hình chuông mầu lục. Giữa kẽ cánh hoa có các nhụy mầu vàng nâu, giống như những sợi râu và một nhụy hình trụ nhưng uốn cong. Chất nhẹ, khi khô dễ bị vụn nát, không mùi, vị hơi đắng.
Thu hái, sơ chế:
Vào mùa hè khi hoa sắp nở, Quả chín, thu hái trước hoặc sau tiết Đông chí phơi khô dùng. Hoa phải hái lúc còn nụ mới. Phơi hoặc sấy khô. Thứ hoa đầu sắp nở nhưng chưa nở, nguyên vẹn, không vụn nát, mầu vàng, không tạp chất là loại tốt.
Phần dùng làm thuốc:
1- Nụ hoa (Flos sophorae Japonicae).
2- Quả (Fructus sopharae Japonicae) Xem: Hòe Thực.
Mô tả dược liệu:
Hoa hòe khô biểu hiện hình viên chùy ở búp, nhỏ dần ở bộ phận cuống, hoa, hơi cong, đài búp hoa hình chuông màu vàng lục chiếm cứ hầu hết cả búp hoa, trước mút búp chia làm 5 đường khe cạn, cánh hoa chưa được trưởng thành búp lại biểu hiện hình trứng tròn, bên ngoài màu vàng đỏ,  toàn thể dài chừng 3,2m -10mm, chất nhẹ, hơi có khí vị đặc biệt. Nụ hoa màu vàng ngà không ẩm mốc, không bị cháy, không lẫn lộn cuống lá, tạp chất là thứ tốt.
Bào chế:
1- Dùng Hòe hoa phải dùng vào lúc hoa chưa nở, để lâu năm càng tốt. Khi dùng vào thuốc thì sao vàng để dùng.
2- Hái hoa lúc còn nụ, phơi hay sấy khô, dùng sống hay sao hơi vàng để pha nước uống, hoặc cho vào nồi đất đun to lửa sao cháy tồn tính 7/10, để cầm máu (Trung Dược Đại Từ Điển).
- Bỏ cành lá, lấy nụ hoa cho vào thuốc sắc uống, hoặc sao cháy thành than dùng hoặc tán nhỏ cho vào thuốc hoàn tán (Đông Dược Học Thiết Yếu).
- Hòe Hoa Sao: Lấy Hoa hòe sạch, cho vào nồi, sao bằng lửa nhẹ cho đến khi mầu hơi vàng, lấy ra để nguội là được (Dược Tài Học).
- Hòe Hoa Thán: Lấy Hoa hòe, cho vào nồi, dùng lửa mạnh đun nóng, sao cho đến khi gần thành mầu đen (tồn tính), phun ướt bằng nước sạch, lấy ra, phơi khô (Dược Tài Học).
Thành phần hóa học:
+ Rutin, Betulin, Soporradiol, Glucuronic acid (Trung Dược Học).
+ Azukisaponin, Soyasaponin, Kaikasaponin (Bắc Xuyên Huân, Dược Học Tạp Chí [Nhật Bản] 1988, 108 (6): 538).
+ Quercetin (Mộc Thôn Nhã Vệ, Dược Học Tạp Chí [Nhật Bản] 1984, 104 (4): 340).
+ Isorhamnetin (Ishida Hitoshi và cộng sự, Chem Pharm Bull 1989, 37 (6): 1616).
+ Betulin, Sophoradiol (Ngải Mễ Đạt Phu, Dược Học Tạp Chí [Nhật Bản] 1956, 76: 1210).
+ Dodecenoic acid, Myristic, Tetradecadieoic acid, Arachidic acid, Beta-Sitosterol (Mitsuhashi Tatsuo và cộng sự C A 1973, 79: 134385u).
Tác dụng dược lý:
+ Tác dụng cầm máu: Hoa hòe có tác dụng rút ngắn thời gian chảy máu. Nếu sao thành than, tác dụng mạnh hơn (Trung Dược Học).
+ Giảm bớt tính thẩm thấu của mao mạch và làm tăng độ bền của thành mao mạch (Trung Dược Học).
+ Tác dụng đối với hệ tim mạch: Chích dịch Hoa hòe vào tĩnh mạch cho chó đã được gây mê, thấy huyết áp hạ rõ. Thuốc có tác dụng hưng phấn nhẹ đối với tim cô lập của ếch và làm trở ngại hệ thống dẫn truyền. Glucozid ở vỏ của Hòe có tác dụng làm tăng lực co bóp của tim cô lập và tim tại thể cuae ếch. Hòe bì tố có tác dụng làm gĩan động mạch vành (Trung Dược Học).
+ Tác dụng hạ mỡ trong máu: Hòe bì tố có tác dụng làm giảm Cholesterol trong máu, Cholesterol ở gan và ở cửa động mạch. Đối với xơ mỡ động mạch thực nghiệm, thuốc có tác dụng phòng và trị (Trung Dược Học).
+ Tác dụng kháng viêm: Đối với viêm khớp thực nghiệm nơi chuột và chuột nhắt, thuốc đều có tác dụng kháng viêm (Trung Dược Học).
+ Tác dụng chống co thắt và chống loét: Hòe bì tố có tác dụng giảm trương lực cơ trơn của đại trường và phế quản, tác dụng chống co thắt của Hòe bì tố gấp 5 lần của Rutin. Rutin trong Hoa hòe có tác dụng làm giảm vận động bao tử của chuột, giảm bớt rõ số ổ loét của bao tử chuột do co thắt môn vị (Trung Dược Học).
+ Tác dụng chống phóng xạ: Rutin làm giảm bớt tỉ lệ tử vong của chuột nhắt do chất phóng xạ với liều gây chết (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Rutin trong Hoa hòe có tác dụng phòng ngừa tổn thương do đông lạnh thực nghiệm. Đối với tổn thương độ 3 càng rõ, đối với độ 1, 2 cũng có tác dụng (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Tác dụng chống tiêu chảy: Dịch Hoa hòe bơm vào ruột của thỏ thấy kích thích niêm mạc ruột sinh chất tiết dịch có tác dụng làm giảm tiêu chảy (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
Tính vị:
+ Vị đắng, tính bình, không độc (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
+ Vị đắng, tính mát (Bản Thảo Cương Mục).
+ Vị đắng, tính hàn (Cảnh Nhạc Toàn Thư).
+ Vị đắng, Tính bình (Trung Dược Học).
+ Vị đắng, tính mát (Trung Dược Đại Từ Điển).
Quy kinh:
+ Vào kinh Dương minh (Đại trường), Quyết âm (Can) (Bản Thảo Cương Mục).
+ Vào kinh thủ Dương minh (Đại trường), túc quyết âm (Can) (Bản Thảo Hối Ngôn).
+ Vào kinh Phế, Đại trường (Dược Phẩm Hóa Nghĩa).
+ Vào  kinh Can, Đại trường (Trung Dược Học).
+ Vào kinh Can, Đại trường (Trung Dược Đại Từ Điển).
 
Tham khảo:
+ Hòe hoa thể nhẹ, màu vàng nhạt, khí bình hòa, vị đắng, khí lạnh mà trầm, có sức lượng huyết, tính khí mỏng màvị đầy, nhập vào 2 kinh Phế và Đại trường, manh nha vào tháng 2 tháng 3, tháng 4 tháng 5 mới bắt đầu nở, bắt đầu từ tháng Mộc mà sinh nhưng thành ở tháng Hỏa. Tính hỏa vị đắng, vị đắng thì có thể đi thẳng xuống mà vị hậu thì trầm xuống chủ về mát ruột và trị hạ huyết, các chứng trĩ lở sưng đau, có công lương huyết chỉ riêng ở Đại trường. Đại trường và Phế có quan hệ biểu lý, có thể sơ phong nhiệt ở bì phu, là tiết khí của Phế kim ra vậy (Biện Dược Chỉ Nam).
+ Hòe hoa là búp hoa của cây Hòe, Hòe thật là (quả đậu) của cây Hòe (Xem: Hòe thật), có tính vị và công dụng giống nhau. Người xưa có thuyết “Dùng hoa có tác dụng thăng lên, các loại hạt có tác dụng giáng xuống”. Chứng nghiệm trên lầm sàng thì Hèo hoa và Hòe thật có công dụng cầm máu. Mặc dù lấy dù lấy việc trị xuất huyết ở phần hạ bộ là chính, chẳng qua dùng Hòe hoa lại dùng trong các chứng thổ huyết chảy máu cam.. Như Phổ Tế phương trị chảy máu cam không cần với Hòe hoa và Ô tặc cốt. Còn trị thổ huyết không cầm, dùng Hòe hoa bỏ vào một tý Xạ hương, bài “Tôn Sinh Hòe Hoa Tán”, dùng một vị này cùng với Bách thảo sương tán bột, uống với nước rễ Tranh trị chảy máu cam, có thể nói rằng mặc dù thuốc rất đơn giản nhưng hiệu quả cao. Còn vị Hòe Thực có tính thiên về hạ giáng, dùng chủ yếu trong đi cầu xuống huyết thuộc hỏa thịnh ở đại trường, cho tới các loại ra máu ở trĩ lở thuộc thấp nhiệt ứ kết. Tóm lại 2 vị này đều có thể lương huyết chỉ huyết, lúc ứng dụng cũng cần phân biệt. Theo văn hiến ghi lại thì Hòe Thực có tác dụng trụy thai, thúc sinh cho nên phụ nữ có thai dùng một cách cẩn thận (Trung Dược Học Giảng Nghĩa).
+ Hòe hoa và Hòe Thực (Quả Hòe) đều là thuốc lương huyết, chỉ huyết. Ngày nay người ta thường hay dùng Hoa hòe. Hoa hòe vị đắng, tính mát, thể nhẹ, chủ chữa về xuất huyết ở các khiếu bên trên, thiên về miệng, mũi. Còn Hòe Thực vị đắng, tính hàn, thể nặng, là vị thuốc thuần âm, thiên về chữa huyết ở hâi kinh âm, chủ yếu trị trường phong hạ huyết, trĩ dò chảy máu (Đông Dược Học Thiết Yếu)
 
http://www.thaythuoccuaban.com/vithuoc/hoahoe.htm

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Hoa hòe

Bài gửi  phannguyenquoctu on Fri Jul 24, 2015 5:05 pm

CHỮA BỆNH TRĨ ĐƠN GIẢN BẰNG HOA HÒE
Hoa hòe là một lại hoa đẹp và phổ biến ở nước ta. Đây cũng chính là một trong số nhiều dược thảo quý có tác dụng chữa bệnh, đặc biệt với bệnh trĩ thì dùng hoa hòe chữa rất đơn giản mà lại hiệu quả.
Tuy vậy nhưng cũng có nhiều người còn chưa biết về loại dược thảo này, nhà thuốc An dược sẽ giới thiệu qua về loại hoa này cũng như công năng và tác dụng của hoa hòe đối với việc chữa bệnh.
cây hoa hòe
Đôi nét về cây hoa hòe:
Hoa hòe hay có tên gọi khác là hòe mễ, hòe hoa, hòe hoa mễ, là loài thực vật thuộc họ đậu và được trồng  nhiều ở Thái Bình, Hải Phòng, Nghệ An…làm cảnh, làm dược thảo chữa nhiều loại bệnh.
Dược liệu làm thuốc thì lại là hoa chưa nở hay còn được gọi là hòe mễ.
Theo Đông y thì hoa hòe có tác dụng lương huyết, chỉ huyết, thanh can tả hỏa, chữa chứng tiện huyết, trĩ huyết, niệu huyết, lạc huyết, nục huyết, đầu căng đau và chóng mặt.
Trong hoa hòe chứa  Flavonoid; nụ hoa chứ rutin, bertulin, sophoradiol, sophorin A, B, C; vỏ quả chứa flavonoid và một số chất như genistein, glucosid C…ngoài ra còn chất béo và galactomanan.
Tác dụng của hoa hòe:
-Hoa hòe có tác dụng cầm máu, rút ngắn thời gian chảy máu.
-Giảm bớt tính thẩm thấu vào mao mạch và giúp cho thành mao mạch bền hơn.
- Chữa huyết áp cao, thần kinh suy nhược, chứng khó ngủ, chảy máu chân răng…
-Chống viêm và kháng khuẩn, hạ huyết áp, hạ mỡ máu và làm chậm quá trình xơ vữa động mạch, chống co thắt cơ trơn ở đường ruột và phế quản.
Các bài thuốc chữa bệnh bằng hoa hòe:
-Chữa bệnh trĩ:
-Người bệnh sao qua hoa hòe (10-15g)sau đó sắc lên lấy nước uống hoặc cũng có thể cho hoa hòe 20g, địa du 10g, diếp cá 12g ( tất cả đã sao đen ) cho sắc với 300ml nước ,sắc khi còn 200ml thì lấy nước uống.
-Dùng quả hòe kết hợp với khổ sâm lấy lượng 2 thứ đó bằng nhau rồi nghiền thành bột để hòa với nước bôi ở bên ngoài.
-Sấy khô hoa hòe với cây kinh giới, sắc lên lấy nước uống mỗi ngày 3 lần vừa có thể chữa bệnh trĩ và bệnh viêm loét dạ dày.
-Dùng xà sàng tử 40g, cam thảo 40g, sau đó tàn thành bột trộn đều lên uống mỗi ngày 9g chia làm 3 lần.
-Dùng hoa hòe nấu với thịt gà, cà chua làm canh để ăn.
-Cho trứng vào chiên cùng hoa hòe rồi ăn nóng hay dùng hoa hòe hầm với thịt lợn.
Tùy theo tình trạng bệnh của mỗi người có thể nên kết hợp cả điều trị bên ngoài và ăn uống bên trong để có hiệu quả tốt hơn.
Ngoài ra hoa hòe còn có tác dụng chữa một số bệnh khác như:
-Chữa huyết áp cao: dùng hoa hòe và hy thiêm thảo sắc lên lấy nước uống
-Trị vảy nến: các dược liệu gồm 12g hoa hòe, 12g trắc bá than, 8g kinh giới, 12g chỉ xác tất cả sao lên sau đó tán thành bột uống với nước sôi để nguội.
- Trị mụn nhọt: sao vàng hoa hòe và tán mịn mỗi lần uống 3g chia làm 2 lần một ngày, uống với nước sôi để nguội sau bữa ăn.
Bệnh nhân nên đi kiểm tra thường xuyên để biết tình trạng của bệnh thay đổi ra sao từ đó có những tiến trình dùng thuốc trị bệnh hợp lý nhất
Nội dung 

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6171
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Hoa hòe

Bài gửi  Sponsored content Today at 11:35 am


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết