Thống Kê
Hiện có 1 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 1 Khách viếng thăm :: 1 Bot

Không

[ View the whole list ]


Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 60 người, vào ngày Sat Jun 02, 2012 10:53 pm
Latest topics
» Những tình khúc vượt thời gian
Yesterday at 1:04 am by phannguyenquoctu

» Các hoạt động chào mừng 20-11-2014 "made in 867TN"
Fri Nov 10, 2017 1:25 am by phannguyenquoctu

» Phim hành động, võ thuật tổng hợp
Wed Nov 01, 2017 12:51 am by phannguyenquoctu

» Clips tổng hợp
Wed Nov 01, 2017 12:47 am by phannguyenquoctu

» Vật lý Thiên Văn
Wed Sep 27, 2017 1:08 am by phannguyenquoctu

» Thầy Ngoạn Cô Hoa
Fri Sep 22, 2017 11:22 pm by phannguyenquoctu

» Vang bóng một thời
Thu Sep 21, 2017 1:08 am by phannguyenquoctu

» Thơ sưu tầm, thơ tặng....
Wed Sep 13, 2017 2:25 am by phannguyenquoctu

» ...proud to be a "nguoi mien trung"
Mon Sep 11, 2017 11:54 pm by phannguyenquoctu

» tiêu chí !!!
Mon Sep 04, 2017 8:31 pm by phannguyenquoctu

» 87SG mừng bạn Khôi về nhà cũ
Sun Sep 03, 2017 1:59 am by phannguyenquoctu

» Việt Sử
Sun Jun 25, 2017 1:15 am by phannguyenquoctu

» Em yêu khoa học
Wed Jun 14, 2017 8:54 am by phannguyenquoctu

» đau khớp, viêm khớp
Sun Jun 11, 2017 1:29 am by phannguyenquoctu

» 87TưNghĩa kỷ niệm 30 năm xa Trường Tư Nghĩa I
Tue Jun 06, 2017 12:34 am by phannguyenquoctu

» VỀ LẠI MÁI NHÀ XƯA - 20 - 11 - 2010
Sun Jun 04, 2017 5:53 pm by phannguyenquoctu

» Đường về nguồn cội
Fri Jun 02, 2017 1:37 am by phannguyenquoctu

» MAN AND BEAST (18+)
Fri Jun 02, 2017 12:52 am by phannguyenquoctu

» Hình vui
Tue May 30, 2017 1:04 am by phannguyenquoctu

» hãy trả lời em....
Mon May 29, 2017 8:06 pm by phannguyenquoctu

» Quyền Anh
Mon May 29, 2017 1:14 am by phannguyenquoctu

» Một nắm Đôla
Sun May 28, 2017 11:22 pm by phannguyenquoctu

» Cơ cấu tổ chức Hội 87TưNghĩa
Sun May 28, 2017 10:28 pm by phannguyenquoctu

» TỦ SÁCH LÝ SƠN
Thu May 25, 2017 5:00 am by phannguyenquoctu

» Giãn tĩnh mạch
Thu May 25, 2017 12:38 am by phannguyenquoctu

Top posting users this week
phannguyenquoctu
 

Top posting users this month
phannguyenquoctu
 

Top posters
phannguyenquoctu (6932)
 
TLT (2017)
 
letansi (1008)
 
le huu sang (320)
 
lamkhoikhoi (299)
 
pthoang (257)
 
luck (220)
 
sóng cát trùng dương (209)
 
hatinhve (181)
 
Admin (156)
 

November 2017
MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930   

Calendar Calendar


Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Re: Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Bài gửi  phannguyenquoctu on Fri May 20, 2011 7:34 pm

Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh – Kỳ 1

Tháng Sáu 28, 2008 bởi hasuong

Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng



Nhà báo Hoàng Anh Sướng

Những năm gần đây, qua các phương tiện thông tin đại chúng, bạn đọc đã biết đến khả năng đặc biệt: tìm mộ từ xa của các nhà ngoại cảm Việt Nam. Những cái tên như Phan Thị Bích Hằng, Nguyễn Khắc Bảy, Thẩm Thuý Hoàn, Dương Mạnh Hùng, Nguyễn Văn Nhã đã ít nhiều trở nên quen thuộc đối với chúng ta. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, số hài cốt mà các nhà ngoại cảm tìm thấy trong thời gian vừa qua đã lên tới vài trăm ngàn. Địa bàn hoạt động của các nhà ngoại cảm không chỉ dừng ở 61 tỉnh thành mà còn vượt cả biên giới quốc gia, sang tận Lào, Căm-pu-chia, Trung Quốc. Việc tìm kiếm hài cốt, khi hội đủ duyên may thì ly kỳ, huyền hoặc như những thiên cổ tích. Song nếu chưa đủ duyên thì khó khăn như tìm bóng câu, tăm cá, khổ chủ sinh ra bất mãn, ngán ngẩm, chán chường. Chính vì thế đã xuất hiện những luồng dư luận trái chiều: người được chứng kiến việc tìm thấy mộ thì hết lời ngợi ca các nhà ngoại cảm, thậm chí còn thần thánh hoá khả năng đặc biệt của họ, người không tìm được mộ người thân hoặc cố tình không tin thì phủ nhận sạch trơn, thậm chí còn riết róng tố cáo họ là những kẻ đại bịp, lừa đảo.

Mong muốn có một cái nhìn chân xác về thế giới huyền bí này, suốt nửa năm trời đằng đẵng, tôi đã theo chân các nhà ngoại cảm lên rừng, xuống biển, đến những vùng thậm xa xôi để chứng kiến, ghi hình, tìm hiểu công việc làm đặc biệt của họ – tìm hài cốt. Tôi cũng đã gặp hàng trăm nhân chứng, hàng chục các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu về lĩnh vực tâm linh huyền bí này để thu thập tài liệu, chứng cứ, kiểm chứng. Thiên phóng sự đặc biệt “Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh” là kết quả của những chuyến khoác ba lô vượt rừng, ngược suối ấy. Hàng trăm câu chuyện ly kỳ, huyền hoặc với hàng ngàn tình tiết hấp dẫn, đầy xúc động về chuyện nghề, chuyện đời của các nhà ngoại cảm đã được tôi ghi lại một cách trung thực, sinh động. Khởi đăng thiên phóng sự này, chúng tôi hy vọng rằng nó sẽ giúp ích phần nào cho các nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến ngoại cảm trong việc vén bức màn bí mật của thế giới tâm linh kỳ bí. Và cũng có thể, sẽ giúp cho hàng ngàn những người mẹ, người vợ liệt sĩ sớm tìm thấy hài cốt của chồng con mình sau mấy chục năm dằng dặc đỏ mắt mỏi mòn ngóng trông.

Bài 1: Hành trình đi tìm gần 500 hài cốt liệt sĩ ở Tây Nguyên

Cuối cùng, chúng tôi cũng có mặt ở K’Nác, huyện K’Bang, tỉnh Gia Lai sau hành trình ngót 2 ngày đêm vượt 1.500 cây số bằng ô tô từ Hà Nội. Tây Nguyên vào tiết thu đẹp nao lòng. Trời ngằn ngặt xanh, mây trắng lốp, nắng vàng rượi, gió mơn man. Xa xa, dòng suối Đắc- lốp, nơi 41 năm trước đã nhuốm đỏ máu liệt sĩ vẫn rì rầm chảy giữa cỏ lau ngút ngàn. Ngọn đồi trước mặt, nơi căn cứ biệt kích của địch chiếm đóng xưa, nay là toà nhà 4 tầng khang trang, trụ sở của lâm trường Kông- Hà – Nừng. Dưới chân đồi, nơi từng diễn ra trận đánh khốc liệt, gần 500 chiến sĩ đã vùi xác, giờ chỗ là ao hồ, chỗ là nhà cửa, chuồng trại. Chao ôi cái sự xoá nhoà khắc nghiệt của thời gian.

Đang miên man nghĩ, bất giác, tôi chợt rùng mình khi nghe nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, người đang chắp tay trước bàn thờ thực hiện cuộc trò chuyện với các vong liệt sĩ từ sáng, quay sang chúng tôi nói, giọng nghèn nghẹn: “Liệt sĩ Ngô Trọng Đãi, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn đặc công 409, quân khu 5 khóc ghê quá. Chú ấy bảo: Ngót 40 năm, lâu quá rồi, thời gian đủ để xoá nhoà tất cả, kể cả chúng tôi, những người đã hy sinh vùi xác thân vĩnh viễn nơi này. Chỉ có các bạn là những người còn nhớ đến để đi tìm. Còn những người chúng tôi nằm xuống xanh cỏ để cho họ đỏ ngực, để được thăng quan tiến chức thì có bao giờ họ nghĩ đến chúng tôi đâu. Giá như họ nhớ đến chúng tôi chỉ một chút thôi và sớm hơn một chút thôi thì giờ đây, đâu đến nỗi các bạn phải khổ sở và nhất là chúng tôi, mấy trăm con người phải vùi thịt xương nơi rừng xanh núi đỏ, không một nén hương tàn. Tôi không nỡ bỏ anh em ở lại núi rừng để mà về quê dù rất thương em trai tôi. Các em ở đây chúng còn trẻ quá. Hầu hết mới 18 – 19 tuổi đầu. Tôi phải đưa bằng được họ về với quê. Tôi sẽ chỉ dẫn cho các bạn tìm hài cốt của họ”.

Kỳ 1: Gần trọn một đời tìm anh

Khởi hành gian nan

Nếu không có cuộc hành trình tìm kiếm hài cốt người anh thân yêu của giám đốc công ty S-fone Phạm Văn Mẫn thì có lẽ mãi mãi, người đời sẽ chẳng biết gì về trận đánh khốc liệt vào trường biệt kích của địch ở K’Nác năm xưa. Và chắc chắn, thịt xương của ngót năm trăm chiến sĩ sẽ vĩnh viễn chìm sâu trong lòng đất, dưới đáy ao chuôm, chuồng trại, nhà cửa. Bởi lẽ, trong hầu hết các trang sử của những đơn vị bộ đội, chẳng có một dòng ghi chép nào nhắc đến trận đánh K’Nác tối ngày mồng 7 rạng ngày 8 tháng 3 năm 1965 buồn thảm ấy. Bộ đội ta hy sinh quá nhiều. Máu của các chiến sĩ đã nhuốm đỏ dòng suối Đắc – lốp. Xác các anh phơi trắng chân đồi. Theo thượng tướng Nguyễn Nam Khánh thì sở dĩ người ta cố tình quên đi vì sợ bị quy trách nhiệm. Cách hành xử ấy không những có lỗi với các chiến sĩ đã hy sinh mà còn có lỗi với thân nhân các gia đình liệt sĩ vì sẽ gây rất nhiều khó khăn cho họ trong việc tìm kiếm hài cốt chồng con mình sau này.


Anh Mẫn thắp hương tại đền tưởng niệm các LS ở K’Nack

Trở lại câu chuyện đi tìm mộ liệt sĩ của anh Phạm Văn Mẫn. Mẫn có người anh trai tên Phạm Văn Thành, quê ở Xuân Trung, Xuân Trường, Nam Định, lên đường nhập ngũ năm 1964. Năm ấy, cậu bé Mẫn mới tròn 10 tuổi. Lúc lên xe, anh Thành đã dúi vào tay Mẫn nắm cơm, khẩu phần ăn duy nhất của anh trước lúc lên đường. Thương anh, mắt nhoè lệ, lòng quặn đau như kim châm, dao cứa.

Chiến trường ác liệt. Anh đi biền biệt không về. Chẳng một lá thư, một dòng nhắn gửi. Mẹ đỏ mắt ngóng chờ. Năm 1972, tin sét đánh ngang tai. Anh Thành đã hy sinh. Cả nhà chết lặng.

Hoà bình lập lại. Nhớ thương anh, Mẫn quyết chí đi tìm. Nhưng biết tìm ở đâu? Giấy báo tử chỉ vỏn vẹn ghi: “Hy sinh ở mặt trận phía Nam”. Kệ, Mẫn cứ đi. Lúc bắt xe khách, khi cuốc bộ ngược đường Trường Sơn. Cứ thấy nghĩa trang liệt sĩ là anh vào. Lần tìm từng tấm bia trên mộ nhưng cái tên Phạm Văn Thành, quê Nam Định vẫn biệt vô âm tín. Thấm thoắt đã ngót 30 năm. Từ lúc tóc Mẫn còn xanh đến khi điểm bạc mà thông tin về phần mộ người anh vẫn biền biệt phương trời.

Đúng lúc tưởng như vô vọng nhất thì tình cờ anh gặp được đồng chí Trần Văn Thức, đồng đội cũ của anh Thành cùng trực tiếp tham gia trận đánh K’Nak. Anh Thức kể: “Tôi thuộc đơn vị bộ đội chủ lực tham gia hỗ trợ bộ đội Quân khu 5 đánh Trường biệt kích Tây Nguyên. Súng nổ mở màn lúc 23h 30′ thì chừng vài phút sau, tôi bị thương cùng với anh Thành. Nhưng mãi đến sáng mới được đưa ra Trạm xá Trung phẫu, cách K’Nác khoảng 8 -10 km. Tại đây, tôi có nhìn thấy dân công hoả tuyến đưa đồng chí Thành đi mai táng cạnh trạm Trung phẫu. Vị trí chôn cất thì không rõ lắm vì lúc đó tôi bị thương nặng, lúc tỉnh, lúc mê”. Thông tin ấy khiến cho anh Mẫn khấp khởi hy vọng và càng quyết chí đi tìm anh.

Từ đồng chí Thức, anh Mẫn đã gặp gỡ được nhiều nhân chứng vốn từng tham gia trận đánh K’Nak xưa. Gặp đồng chí Trần Duy Trung thuộc Trung đoàn 95 A, sư đoàn 325 bộ đội chủ lực, nay đang ở Xuân Trường, Nam Định. Gặp Trung tá Trần Tấn Ước, nguyên chính trị viên phó tiểu đoàn 409, hiện ở thị trấn Bình Sơn, Bình Định. Gặp trung tá, anh hùng Nguyên Ngọc Bình nguyên là đại đội trưởng đại đội 1 của tiểu đoàn 409, người được phong anh hùng trong trận đánh K’Nak. Gặp trung tá Nguyễn Văn ẩm, nguyên chính trị viên phó tiểu đoàn, phụ trách việc chôn cất các liệt sĩ cùng một số nhân chứng khác. Cả một trận đánh khốc liệt năm xưa chợt hiện về qua hồi ức của những người một thời vào sinh ra tử ấy.

Vén bức màn bí mật về trận đánh khốc liệt K’Nak

Căn cứ biệt kích K’Nak nằm trên 3 quả đồi chạy dọc Bắc Nam, có nhiều lợi thế quân sự. Nơi đây đồi núi lô nhô, thuận lợi cho việc xây dựng phòng thủ và bố trí binh lực, hoả lực, xuất phát tiến công. Lại có nhiều thung lũng sình lầy, có sông Ba và khe suối bao bọc, cản trở khi bị đối phương tiến công. Mỹ nguỵ đã xây dựng ở đây một cụm cứ điểm bao gồm đồn luỹ bảo vệ, sân bay dã chiến và trại pháo nhằm chặn cắt đường giao liên giữa Bình Định và Gia Lai. Quân ta đã nhiều lần tập kích căn cứ này nhưng đều không thành công. Mùa xuân năm 1963, Đảng uỷ, Bộ tư lệnh quân khu 5 và Bộ tư lệnh mặt trận Tây Nguyên quyết định tập trung lực lượng trên quy mô lớn tấn công căn cứ này. Lực lượng ta gấp 3 số lượng địch, gồm: Tiểu đoàn đặc công 409 quân khu 5, một đơn vị đặc công của tỉnh Bình Định, trung đoàn số 10 và Bộ phận chỉ huy tiền phương quân khu 5. Tổng quân số lên tới gần 750 người.

14h ngày 7 tháng 3 năm 1965, bộ đội ta xuất quân từ Kông-Hà-Nừng, cách K’Nak hơn 20 km. 18h, cách suối khô 500m. 19h, bắt đầu tiếp cận. Đến 23h, quân ta đã chiếm lĩnh xong các vị trí quy định. Theo kế hoạch, đặc công mở cửa diệt các vị trí trọng yếu. Sau đó, bộ binh dùng xung lực mạnh giảI quyết trận địa. Song do quá trình trinh sát địa hình chuẩn bị trận đánh trước đó một tháng đã để lộ dấu vết nên địch biết trước kế hoạch tấn công của ta. 23h 30′, bộ đội ta vấp phải mìn nổ, mìn sáng. Địch lập tức nổ súng trùm lên toàn bộ đội hình của ta. Pháo sáng chúng bắn sáng rực như ban ngày. Ta tiến công cưỡng hành. Bộ đội ta chiến đấu cực kỳ dũng cảm, đã đánh chiếm được điểm cao phía Bắc và phía Nam nhưng hướng chủ yếu ở giữa chỉ chiếm được “đầu cầu”. Lô cốt cố thủ của địch bắn chặn quyết liệt. Đến 0h 30′ ngày 8 tháng 3, quân ta thương vong gần hết. Xác của các chiến sĩ nằm la liệt trắng cả ven suối và chân đồi K’Nak. Lực lượng còn lại buộc phải rút lui. Địch vẫn bắn truy kích dữ dội. Gần 500 thương binh và tử sĩ của ta không mang theo được. Một phần địch gom lại, đổ xăng đốt. Số còn lại, dùng xe ủi đào từng hố hất các liệt sĩ xuống rồi san phẳng.

Đồng chí Nguyễn Văn ẩm, chính trị viên phó Tiểu đoàn 409, phụ trách công tác thương binh ở trạm trung phẫu (cách vị trí địch khoảng 8km) cho đào sẵn 50 huyệt mai táng. Mỗi hàng 10 huyệt, cách nhau 60 – 80cm nhưng duy nhất chỉ mai táng được 8 đồng chí, trong đó có tiểu đoàn trưởng Ngô Trọng Đãi và liệt sĩ Phạm Văn Thành. 8 đồng chí này bị thương ngay từ đầu trận đánh nên mới đưa ra được phía sau. Lực lượng cứu thương và dân công hoả tuyến (đều là người dân tộc) cũng hy sinh hết cả nên không còn người cấp cứu và tải thương ra cứ được. Nếu tính cả lực lượng này, hơn 1.000 người đã để lại xương thịt ở trận địa K’Nak.

Cuộc điện đàm… huyền hoặc

Chuyện tìm hài cốt liệt sĩ Phạm Văn Thành giờ tưởng chừng dễ dàng như trong lòng bàn tay. Nhưng khi đưa các nhân chứng vào K’Nak, anh Mẫn đã bật khóc nức nở. Ngót 37 năm trời dằng dặc, cảnh vật thay đổi quá nhiều. Trạm trung phẫu trước kia có 4 cây đa cổ thụ to lắm, che chắn cho trạm xá, nay chỉ còn một cây. Suối Đắc-lốp giờ đã ngăn dòng làm đập thuỷ điện. Đồng đội cũ của anh Thành giờ đều tuổi cao, sức yếu, trí nhớ giảm sút nên việc xác định vị trí ngôi mộ rất khó khăn. Nhiều lần, anh Mẫn phải cầu viện đến các nhà ngoại cảm. 9 nhà ngoại cảm nổi tiếng từ Bắc chí Nam anh đều đã vời vào nhưng không hiểu sao, người ra đến sân bay thì cáo ốm xin về, người bước đến cửa rừng thì kêu: “khu rừng này thiêng lắm, sợ lắm, không tìm được đâu” rồi hớt hải bỏ về. Có nhà ngoại cảm vừa đào đào bới bới bỗng lăn đùng ra đất, tay ôm chặt đầu lăn lộn, miệng kêu gào: “Ôi! đau đầu quá! Đau quá”. Lần cuối cùng, ngày 26 tháng 12 năm 2001, nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy cùng anh Mẫn đi Tây Nguyên. Trước khi đi, nhà ngoại cảm bằng khả năng đặc biệt đã cung cấp những thông tin ban đầu khá chính xác:

- Nơi liệt sĩ Thành nằm còn có 7 người nữa.
- Khu mộ cách con suối từ 20 – 50m, có nhiều bụi rậm, trong đó có một cây cụt.
- Anh Thành nằm hàng thứ 2, ngôi thứ 2 từ phải qua trái. Ngôi đầu, hàng đầu là một người chỉ huy.

Nhưng vào làm việc tại thực địa, nhà ngoại cảm cho khai quật một số điểm đều không thấy. Tranh luận nổ ra. Một số người trong đoàn giảm niềm tin và chán nản. Lúc đó, nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy mới gọi điện thoại di động trao đổi với thiếu tướng Nguyễn Chu Phác – chủ nhiệm Bộ môn cận tâm lý (Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người), rồi chuyển điện thoại cho anh Mẫn trực tiếp nói chuyện. Từ Hà Nội, thiếu tướng Chu Phác hỏi: “ở đấy ai là Thành?”. Anh Mẫn đáp: “Thưa chú! Thành là anh ruột cháu. Anh ấy là liệt sĩ. Chúng cháu đang tìm nhưng không thấy”. Thiếu tướng lại hỏi: “ở đấy có ông chỉ huy tên Ngô Trọng Đãi đeo súng ngắn hy sinh không?”. “Thưa chú! Chú Ngô Trọng Đãi là tiểu đoàn trưởng, hy sinh cùng anh cháu”. Thiếu tướng bảo: “Ông ấy đeo súng lục, tay cầm cái gậy, đuổi các cậu về và nói: ở đây có hàng trăm liệt sĩ, chúng nó không tìm mà chỉ nhăm nhăm đi tìm một người là Thành – anh nó thì không cho tìm”. Thiếu tướng trùng giọng: “Thôi! Các cậu về đi. Về ngay để nghiên cứu, tổ chức lại cuộc tìm mộ này”.

Ngày 20 tháng 2 năm 2002, anh Phạm Văn Mẫn đã làm một lá đơn gửi Bộ môn cận tâm lý và Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người nhờ giúp đỡ tìm mộ anh trai và đồng đội ở K’Nak. Hơn một tháng sau, Bộ môn đã cử một đoàn công tác đặc biệt gồm 3 nhà ngoại cảm nổi tiếng: Phan Thị Bích Hằng, Thẩm Thuý Hoàn, Nguyễn Khắc Bảy do Đại tá Hàn Thuỵ Vũ phụ trách trở lại Tây Nguyên. Anh Phạm Văn Mẫn đã trực tiếp mời Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, nguyên Phó tư lệnh quân khu 5 cùng nhiều nhân chứng khác tham gia đoàn. Trước khi lên đường trở lại chiến trường xưa, Đoàn và nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, bằng khả năng đặc biệt đã mời vong linh liệt sĩ Ngô Trọng Đãi, tiểu đoàn trưởng và vong linh liệt sĩ Phạm Văn Thành về nhà riêng ở Khu tập thể Kim Liên để xin ý kiến. Cuộc trò chuyện kéo dài hơn 1 tiếng đồng hồ trong bảng lảng hương khói và nước mắt với rất nhiều thông tin của liệt sĩ Ngô Trọng Đãi đã mở ra hướng đi mới cho việc tìm mộ tập thể liệt sĩ ở Tây Nguyên.

avatar
phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6932
Join date : 25/10/2010
Age : 49
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Bài gửi  phannguyenquoctu on Sat Aug 06, 2011 7:00 am

Kỳ 2: Bí mật dưới dòng Đắc-lốp

“Tìm liệt sĩ tiếng lòng vẫy gọi
Đánh thức lương tri của mỗi con người
Ai đem hạnh phúc cho đời
Nhớ người chiến sĩ quên mình năm xưa”



Trò chuyện với…vong linh liệt sĩ


Nhà ngoại cảm Bích Hằng đang “trò chuyện” cùng các LS tại K’Nack

Cuộc “gặp gỡ” kỳ lạ đượm chất “liêu trai” giữa nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng và vong linh liệt sĩ Ngô Trọng Đãi, Phạm Văn Thành đã diễn ra vào hồi 16h ngày 26 tháng 3 năm 2002 tại căn phòng nhỏ của chị ở khu tập thể Kim Liên, Hà Nội. Tham gia cuộc gặp gỡ có thiếu tướng Chu Phác, chủ nhiệm bộ môn cận tâm lý, thuộc Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, Đại tá Hàn Thụy Vũ và anh Phạm Văn Mẫn. Trong không khí tĩnh lặng, thiêng liêng phảng phất hương trầm, trước di ảnh của hai liệt sĩ, nhà ngoại cảm tay chắp trước ngực thành kính, giọng đầy xúc động: “Thưa bác Ngô Trọng Đãi và anh Phạm Văn Thành! Hôm nay là ngày 26 tháng 3 năm 2002, cháu Phan Thị Bích Hằng cùng anh Phạm Văn Mẫn là em của liệt sĩ Phạm Văn Thành, Thiếu tướng Chu Phác, Đại tá Hàn Thuỵ Vũ muốn được mời bác và anh Thành về. Xin hỏi bác những thông tin có liên quan đến trận đánh căn cứ biệt kích K’Nak và đặc biệt là nơi mai táng cũng như tình trạng hiện nay của các liệt sĩ tại K’Bang”. Ngừng lời như kìm nén niềm xúc động, mắt vẫn dõi nhìn vào tấm ảnh đã ố vàng của liệt sĩ Đãi, chị đằng hắng giọng rồi nói tiếp, giọng run run: “Thưa bác Đãi! Nhiều năm qua, anh Mẫn đã bỏ ra rất nhiều công sức, tiền của để đi tìm mộ anh Thành tại khu rừng mà mọi người chỉ dẫn là nơi đặt trạm trung phẫu 37 năm về trước mà không đạt kết quả. Hôm nay, xin phép bác và anh Thành cho anh Mẫn được thưa chuyện. Mong được hai người chỉ dẫn”.

Anh Mẫn: “Thưa bác Ngô Trọng Đãi và anh Thành! Nhiều năm qua, đã mấy chục lần cháu đi tìm anh cháu và các bác ở K’Bang. Lần gần đây nhất là tháng 12 năm 2001. Mặc dầu đã được các nhân chứng chỉ chỗ chôn cất các bác, cháu đã khai quật nhiều lần mà vẫn không thấy. Lần này, trời run rủi cho cháu được gặp nhiều đồng đội cũ của Bác, những người trực tiếp chỉ huy trận đánh, trực tiếp chiến đấu và mai táng như bác Nguyễn Văn ẩm, bác Trần Duy Trung, bác Nguyễn Trọng Bình, Châu Khải Địch, Nguyễn Văn Cán, Nguyễn Minh Sang, Trần Tấn Ước… Đặc biệt chuyến đi tới còn có Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh cùng nhiều thành viên khác. Cháu mong bác và anh linh thiêng hướng dẫn thêm để chuyến đi này đạt kết quả như mong muốn”. Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, sau một hồi chăm chú nhìn bức ảnh liệt sĩ Đãi và lắng nghe, miệng “dạ, vâng” liên tục như thể hai người trần đang trò chuyện với nhau, đã quay sang anh Mẫn để truyền đạt lại lời của liệt sĩ (từ đây xin ghi là liệt sĩ Đãi – tác giả). “Tôi không nỡ bỏ anh em ở lại núi rừng để về quê hương dù rất thương em trai tôi. Cả Thành cũng vậy, dù rất thương cậu xong cũng không thể về một mình mà để lại đồng đội đâu Mẫn ạ. Lần nào cậu vào đào bới chúng tôi đều biết hết. Sự hiện diện của cậu ở K’Bang bao nhiêu năm nay ở núi rừng K’Bang là nguồn động viên an ủi vô cùng lớn đối với linh hồn các liệt sĩ. Như vậy là vẫn có người nhớ đến chúng tôi. Chúng tôi vẫn còn có cơ hội về quê. Nhưng cậu chỉ đi tìm anh cậu còn để bỏ mặc đồng đội của tôi, của anh cậu thì làm sao tìm được”. Anh Mẫn: “Thưa bác, những lần đi tìm trước, cháu có đào đúng chỗ các bác nằm không ạ?”. Liệt sĩ Đãi: “Toạ độ cậu xác định là đúng nhưng địa điểm cụ thể thì chưa. Phải lùi về phía con suối nữa, nơi có nhiều cây song le gần sát nước. Trước đây chỗ mai táng chỉ cách suối khoảng 25m thôi. Đấy là lúc suối cạn. Còn bây giờ suối đã ngập nhiều rồi. Chỗ hồ nước mênh mông ấy, hài cốt chúng mình ở dưới ấy. Cậu có đủ can đảm lặn xuống đáy không?”. Anh Mẫn: “Thưa bác, như vậy có nghĩa là các bác nằm ở dưới con suối ạ? Vì ở đó bây giờ là đập thuỷ điện”. Liệt sĩ Đãi: “Cũng gần như vậy. Duy chỉ có một điều tôi không muốn nói ra vì nếu nói, sẽ chẳng ai vào đây với chúng tôi nữa. Thôi, dù sao cũng cố gắng vào với chúng tôi đi. Tôi muốn gặp lại những đồng đội cũ của tôi còn may mắn sống sót sau trận đánh ấy và cũng để cho họ được một lần trở lại chiến trường xưa”. Anh Mẫn: “Vậy có cách nào để xả con suối đó không ạ?”. Liệt sĩ Đãi: “Thế tôi mới hỏi cậu”. Anh Mẫn: “Bác Đãi ơi! Bác hãy giúp cháu. Cháu sẽ xin xả đập nước. Nhưng nếu chính quyền họ bắt cháu thì sao. Xin bác và các liệt sĩ giúp cháu”. Liệt sĩ Đãi: “Cậu làm vì việc nghĩa thì không ai dám hại cậu đâu, miễn là hợp lý, hợp tình. Nhưng có một điều tôi muốn nói với cậu. Tôi sợ cậu lực bất tòng tâm. Tìm các liệt sĩ còn muôn vàn gian khó đấy. Nhiệt tình không chưa đủ. à, mà cậu đã qua Vĩnh Thạnh bao giờ chưa?”. Anh Mẫn ngạc nhiên hỏi: “Thưa bác, sao lại phải qua Vĩnh Thạnh xa xôi thế ạ?”. Liệt sĩ Đãi: “Cậu dốt lắm. Không qua Vĩnh Thạnh thì chuyến đi của cậu còn có ý nghĩa gì. Kiểu gì cũng phải qua đó thắp hương. Các liệt sĩ quê ở đó nhiều lắm và còn nhiều lý do khác nữa, sau này mới hiểu”.

Anh Mẫn còn đang vân vi về lời dặn của liệt sĩ Đãi thì vong linh của liệt sĩ Thành về, nói qua nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng: “Anh không biết nói gì thêm với em cả, chỉ mong sớm được cùng em về với quê hương, cha mẹ. Khi đi em nhớ thắp hương xin phép tổ tiên để các cụ phù hộ cho em nhé. Nhà mình còn một ông chú chết trẻ nữa đấy. Chú trách là không bao giờ nói gì đến chú cả. Lần này em phải nhớ. Anh và bác Đãi sẽ phù hộ cho em”.

Chị Hằng tay vẫn chắp trước ngực, nói: “Thưa bác Đãi! Thưa anh Thành. Lần này, anh Mẫn tổ chức đoàn đi tìm kiếm các liệt sĩ tương đối quy mô. Có sự tham gia của nhiều nhân chứng, sự giúp đỡ của quân khu 5, của địa phương tỉnh Gia Lai và các nhà ngoại cảm thuộc Bộ môn cận tâm lý, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người. Thành phần này rất đầy đủ và chuẩn bị rất công phu. Cháu mong các bác hãy phù hộ giúp đỡ cho đoàn đi tìm kiếm đợt này đạt được như ý muốn. Cháu cảm ơn bác Đãi, anh Thành và cảm ơn các liệt sĩ”.

Cuộc nói chuyện kết thúc vào hồi 17h nhưng mọi người còn bịn rịn chưa muốn về. Ai cũng băn khoăn trước những câu nói khó hiểu của liệt sĩ Đãi: “Nếu tôi nói ra sẽ chẳng ai vào đây nữa”. “Nếu không đi Vĩnh Thạnh, chuyến đi của cậu sẽ chẳng còn ý nghĩa gì” và “Cậu có đủ can đảm mò xuống dưới suối không?”. Có gì ẩn chứa trong những lời nói ấy? Câu trả lời vẫn còn ở phía trước, tận núi rừng Tây Nguyên xa xôi, hùng vĩ khiến tất cả mọi người cứ khắc khoải như chính linh hồn các liệt sĩ đã từng khắc khoải đợi chờ suốt 37 năm dằng dặc.

Nước mắt giữa rừng sâu




Trở lại chiến trường xưa tìm đồng đội

Ngày 27 tháng 3 năm 2002, đoàn xuất phát từ Hà Nội. Trên đường đến K’Nak, đoàn rẽ vào Nghệ An, Đà Nẵng đón thêm một số nhân chứng, trong đó có bác Ngô Trọng Quang là em ruột của liệt sĩ Ngô Trọng Đãi, tổng cộng khoảng hơn 40 người, do Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh làm trưởng đoàn. Ba ngày sau, tại núi rừng K’Bang âm u, trùng điệp, tại chính mảnh đất đã thấm đẫm máu của ngót 500 chiến sĩ đặc công anh hùng, những người lính đã một thời vào sinh ra tử trong trận đánh khốc liệt K’Nak, sau 37 năm trời đằng đẵng, nay tóc bạc da mồi, bồi hồi xúc động kể lại kỷ niệm xưa. Nước mắt lăn dài, khói hương nghi ngút, những tiếng nấc nghẹn ngào cứ bật ra. Trung tá Nguyễn Văn Cán, 70 tuổi, sụt sùi kể: “Lúc đó trận đánh rát quá, quân ta thương vong quá nhiều nên tôi phải liên lạc và báo cáo cấp trên bằng bộ đàm. Đang báo cáo thì anh Ngô Trọng Đãi giật lấy máy từ tay tôi để xin ý kiến chỉ đạo. Đúng lúc đó, một quả pháo cối của địch bắn trúng anh. Bụng anh bị vỡ, máu chảy ồ ạt, ruột gan tòi hết cả ra ngoài. Tôi phải xé quần áo buộc chặt. Dân quân hoả tuyến vội vàng đưa anh về trạm trung phẫu cấp cứu nhưng không kịp. Đau xót và thương lắm các đồng chí ạ!”. Nói đoạn, trung tá Cán bật khóc nức nở như thể đang đứng trước trận chiến năm nào, đầy xác và máu đồng đội.



Các nhân chứng đang xem lại sơ đồ trận đánh để xác định vị trí trạm trung phẫu

Trung tá Nguyễn Văn ẩm, 74 tuổi, nhân vật trung tâm của chuyến đi vì ông là người trực tiếp chôn cất liệt sĩ Đãi, Thành và 6 đồng chí khác nhớ lại: “Tôi đào sẵn 50 hố. Mặc dù số lượng hy sinh quá nhiều so với dự kiến nhưng cuối cùng cũng chỉ đưa về mai táng được 8 đồng chí thôi. Sợ địch phát hiện nên chôn cất xong chúng tôi phải san phẳng ngay. Kể lại thì xót xa lắm. Lúc đó vì khó khăn nên mai táng các đồng chí ấy chẳng có quan tài, áo mưa hay tăng võng gì sất. Chỉ vỏn vẹn có 4m vải xô trắng quấn qua loa. Nếu tìm thấy bây giờ thì xương cốt chắc cũng chẳng còn gì nữa”.

Trung tá Nguyễn Minh Sang, người trực tiếp tham gia trận đánh, sau này đã từng bám trụ chống lại bọn lâm tặc phá rừng, nơi đồng đội của bác đã đổ xương máu, hiện đang sống tại K’Bang thì vừa khóc tu tu, vừa nói: “Phải tìm bằng được các liệt sĩ rồi sau này có chết đi cũng không có gì phải áy náy. Chừng nào chưa tìm được các anh thì rừng này vẫn phải giữ nguyên không ai được chặt phá. Trong khi chúng ta còn sống thì bằng mọi cách, phải đưa các anh trở về với quê cha đất mẹ”.

Bí mật dưới hồ Đắc-lốp


Suối Đắc Lốp

13h ngày 30 tháng 3 năm 2002, bắt đầu cuộc tìm kiếm hài cốt 8 liệt sĩ tại khu vực trạm trung phẫu. Trung tá Nguyễn Văn ẩm, do tuổi cao, sức yếu, trí nhớ giảm sút, cộng với địa hình thay đổi quá nhiều qua 37 năm mưa nắng nên không thể nhớ được chính xác vị trí trạm trung phẫu cũng như nơi chôn cất 8 liệt sĩ. Cả ba nhà ngoại cảm là Phan Thị Bích Hằng, Nguyễn Khắc Bảy và Thẩm Thuý Hoàn thì đều kêu ở đây nhiễu quá, mất hết thông tin, không ai gặp được vong. Lực lượng bộ đội và dân quân đào một số đoạn hào nhưng không phát hiện được dấu vết gì. Một số dân địa phương, người Ba Na lớn tuổi, chỉ một số điểm khác cũng không trúng.


Vị trí trạm trung phẫu gần suối Đắc-Lốp

Các nhà ngoại cảm đều cố gắng cầu khấn xin gặp vong người chỉ huy cao nhất là liệt sĩ Ngô Trọng Đãi. Đến 21h ngày 30 tháng 3 năm 2002, tại nhà nghỉ, Thẩm Thuý Hoàn gặp được vong liệt sĩ Ngô Trọng Đãi. Liệt sĩ dặn: “Triển khai xuống phía dưới con suối, không nên đào quá lên trên. Hôm nay đã hất một phần, ngày mai chịu khó bới lại một chút. Từ chỗ đào hôm nay hơi chéo xuống. Vì hài cốt của chúng tôi không còn nhiều nên khi đào phải chú ý thận trọng một chút. Ngày mai tìm được các liệt sĩ khác rồi mới tìm được tôi và anh Thành. Nếu không, các anh em còn lại sẽ không có ai tìm nữa”.

Cùng thời gian đó, nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng cũng được “yết kiến” vong liệt sĩ Đãi. Chị nói thêm: “Người bác rất cần gặp trong ngày hôm nay vì bác đã xanh cỏ để cho họ đỏ ngực thì không đến để nói một lời chia sẻ với các anh em ở đây. Bác ẩm là đồng đội cũ nhưng không nói thay được. Khi nghe tin đoàn vào, anh em liệt sĩ ở đây rất mừng, ra đón rất đông. Nhưng các vị tướng lại không nói một lời. Sát mép gần bờ suối còn nhiều anh em. Cháu yên tâm không đi nhầm khu vực. Bác sẽ hiệp đồng với cháu”. Hình ảnh của liệt sĩ Ngô Trọng Đãi xuất hiện mờ ảo, rất nhanh nhưng cả hai nhà ngoại cảm đều thu được trùng khớp thời gian và nét mặt.

Chiều hôm sau, đoàn tìm kiếm quay trở lại rừng. 13h, cùng một lúc, chị Hằng và Hoàn đều reo lên: “Bác Đãi về kìa”. Việc tìm kiếm khu mộ bắt đầu chuyển hướng về phía chân đồi, nơi dòng suối Đắc-lốp. Cả đoàn túm vào phát quang hơn 100m rừng le rậm rạp, mở đường xuống suối. Các nhà ngoại cảm và trung tá Nguyễn Văn ẩm cùng chung một ý nghĩ: Dòng suối cạn khi xưa nay đã thành hồ nước rộng gần 100m2 do chính quyền huyện K’Bang ngăn nước tạo đập làm thuỷ điện. Và kia rồi, một gốc cây cổ thụ bị cưa ngang nổi lập lờ mặt nước. Bằng khả năng đặc biệt, nhà ngoại cảm Bích Hằng đã xác định được vị trí của 8 liệt sĩ đang nằm dưới lòng suối, rồi cho người cắm cọc theo các trật tự như sau: Liệt sĩ Đãi, Tất, Được, Tuyển, Hưởng, Bình, Thành và Công. Liệt sĩ Đãi là tiểu đoàn trưởng, người chỉ huy cao nhất nên được an táng đầu tiên. Người được an táng cuối cùng là liệt sĩ Công, trẻ nhất.

Bích Hằng thắp hương tại vị trí đang khai quật để nói chuyện với các liệt sĩ. Liệt sĩ Đãi yêu cầu gặp bác Lại (em trai). Liệt sĩ nói (qua Bích Hằng): “Em mới vào đây thì biết gì đâu. Không đào chỗ này nữa. Cô Lệ dạo này ra sao?”. Bác Lại đáp: “Cô Lệ đã lấy chồng là thương binh anh ạ”. Liệt sĩ Đãi: “Trước đây, anh có người yêu tên Lý, quê ở Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, làm giáo viên, quen nhau ở lớp học bình dân. Cô ấy đã tình nguyện quan hệ với anh một lần. Lúc đó, hai đứa có bàn với nhau: Nếu con gái đặt tên là Hoài, con trai đặt tên là Nhơn. Nhưng trong túi anh lúc nào cũng có ảnh của cô Lệ ở quê mình đã dạm hỏi ý. Rất tiếc là lúc chôn anh, bác ẩm đã không chôn bức ảnh cùng. Giỗ anh vào ngày mồng 7 tháng 3 chứ không phải mồng 8. Làm lệch ngày, anh về, không có nén hương, anh tủi thân. Vị trí các anh em liệt sĩ ở đây là: Đãi, Tất, Được, Tuyển, Hưởng, Bình, Thành, Công. Nếu anh Chương (đồng chí Nguyễn Huy Chương, nguyên chính trị viên trưởng tiểu đoàn, người quyết định trận đánh – tác giả) mà có trách nhiệm đến thăm anh em ngay từ khi hoà bình lập lại thì có biết bao nhiêu anh em đi theo ủng hộ, chứ phải đâu như bây giờ. Nơi này tắm máu anh em xong để đấy. Y cụ, xong nồi, chảo vẫn ở dưới suối”. Liệt sĩ Thành nói chen vào: “Lúc nãy bác Đãi thấy bác Lại cứ đi vòng quanh mãi nên bác Đãi thương quá mà về gặp. Mẫn ơi! Chỉ cần em vào đây thắp hương là đủ rồi. Để cho anh ở lại đây. Không phải anh không muốn về. Anh cũng nhớ mẹ lắm chứ nhưng sợ em lực bất tòng tâm vì anh đang nằm ở dưới làn nước sâu. Chị Thường nản rồi không vào thăm anh nữa à? Chị ấy là phụ nữ, đi lại vất vả thế, chắc không chịu được. Có thằng Hải, thằng Đông vào đây là anh vui rồi. Hải nó lớt phớt, không tin là tìm được anh. Anh chỉ còn rất ít”. Liệt sĩ Đãi nói tiếp: “Khẩu súng lục anh đeo, lúc vào trạm trung phẫu, vì ruột cứ lòi ra nên đã tháo ra để quấn băng. Anh chỉ ú ớ được mấy tiếng rồi không biết gì. Cô Lý rất yêu anh nhưng nhà đã dạm hỏi coi như anh có vợ. Muốn gửi lời xin lỗi cô Lệ đã để cô ấy chờ lâu quá. Em mang về dù một nắm đất cũng nhắn Lệ đến thăm anh”.

Bích Hằng: “Thưa bác Đãi, cháu xin phép được thỉnh cầu bác lần nữa. Mong bác cho biết, toạ độ chúng cháu cắm cọc kia đã đúng chưa ạ? Bác có thể chỉ dẫn để chúng cháu cắm lại. Và bác Lại có đôi lời muốn thưa chuyện với bác”. Liệt sĩ Đãi: “Đây là cọc đầu tiên và 6 cọc tiếp theo. Nhưng không phải chỗ này, đi tiếp cắm lại. Được rồi. Bắt đầu từ đấy kéo dài thẳng đến gốc cây. Đây là cây đa che chở cho trạm trung phẫu”. Bác Ngô Trọng Lại, chắp tay vái lia lịa, miệng mếu máo: “Anh ơi! Nếu đúng mảnh đất này là nơi lưu giữ xương thịt anh thì anh cho phép tất các các gia đình thân nhân liệt sĩ ở đây đem nắm đất này về. Mong anh trao đổi với các anh em và cho biết ý kiến. Điều kiện em rất khó khăn, tuổi cao, sức yếu, khả năng tài chính eo hẹp. Anh nên về nghĩa trang liệt sĩ Hoà Vang hoặc đài liệt sĩ xãHoà Thọ quê mình yên nghỉ”. Liệt sĩ Đãi: “Thật ra trong lòng anh đã nghĩ đến điều đó. Dù sao nơi này cũng có xương máu của anh và đồng đội. Với tình cảm của em và mọi người dành cho anh thì dù chỉ là một nắm đất cũng đầy đủ ý nghĩa rồi. Hồi xưa đi hoạt động, anh vẫn thường bảo với em là: Anh hùng xá kể chi thân xác. Mạng sống của mình còn chẳng tiếc, huống hồ một nắm xương tàn. Thôi thì sinh thổ hoá thổ. Sinh ra từ đất rồi lại trở về với đất. Với anh em ở đây, về mặt chỉ huy anh có thể nói được. Nhưng tình cảm cá nhân thì mỗi người một ý, anh không thể quyết định thay được. Riêng anh, anh đồng ý theo em về. Em mỗi tuổi mỗi yếu, đi lại nhiều, thương lắm. Quê mình là Hoà Nhơn sao bây giờ là Hoà Thọ. Dù về nghĩa trang xã hay huyện đều được còn như thế này coi như anh được thuỷ táng dưới lòng suối với anh em. Cậu Tuyển, Được cũng sẵn sàng về. Còn các anh em khác đang lưỡng lự. Em có thể bốc một nắm đất sát bờ suối. Còn vị trí vừa cắm cọc là có anh nằm ở dưới. Em cứ bốc một nắm đất lên rồi khấn: Ba hồn bảy vía anh Ngô Trọng Đãi ở đâu thì theo em về quê. Em bốc bảy lần và nói như vậy. Mỗi lần cắm một nén hương. Em chắp tay xin thần rừng, thần sông, thần suối phù hộ cho linh hồn anh được về quê. Anh không muốn về trong ngậm ngùi mà muốn có lá cờ Tổ quốc phủ lên phần đất, dù là tượng trưng, để phủ lên cho anh”.

Bác Lại vâng lời, làm đúng lời anh dặn. Vừa bốc đất, vừa khấn, vừa khóc. Tiếng khóc nấc đớn đau chất chứa cả một đời cứ lan trong chiều tím nghe vừa ai oán, vừa xót xa. Cả đoàn không ai kìm được nước mắt. Còn anh Mẫn, lặn ngụp dưới lòng hồ suốt từ chiều đến giờ nhưng vì hồ rộng, nước sâu nên đành chịu. Nước hồ chỗn lẫn nước mắt ướt đầm. Thương anh đứt ruột nhưng đành phải gạt nước mắt tạ từ chờ đến mùa khô nước cạn.


Vì hồ rộng nước sâu nên anh Mẫn đành phải nuốt nước mắt lên bờ


http://hasuong.wordpress.com/2008/06/29/nh%E1%BB%AFng-chuy%E1%BB%87n-k%E1%BB%B3-bi-v%E1%BB%81-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi-tam-linh-2/
avatar
phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6932
Join date : 25/10/2010
Age : 49
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Bài gửi  TLT on Fri Jun 28, 2013 10:01 am












Thứ năm, ngày 27 tháng sáu năm 2013

Thế giới tâm linh - Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh Kỳ 7 đến Kỳ 11


[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Kỳ 7: 84 năm đi tìm mộ người anh hùng Lương Ngọc Quyến[/b]

99 năm đã qua đi, kể từ khi ngọn lửa của cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên bùng cháy (30/8/1917 – 5/1/1918). Đây là lần đầu tiên, trong lịch sử cận đại Việt Nam, một cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp đã chiếm được tỉnh lỵ, không những làm vang dội cả nước Việt Nam mà còn làm rung động nước Pháp và ảnh hưởng tới các xứ thuộc địa của Pháp. Cuộc bạo động ấy cùng tên tuổi của hai nhà lãnh tụ Lương Ngọc Quyến, Đội Cấn sẽ mãi mãi là những nét vàng son rực rỡ ghi trong trang sử hào hùng của đất Thái Nguyên, của lịch sử dân tộc. Song có một điều ít ai biết được rằng, phía sau cái chết còn nhiều bí ẩn của người anh hùng Lương Ngọc Quyến là cuộc hành trình tìm kiếm hài cốt có lẽ là dài nhất, đằng đẵng nhất – 84 năm, của rất nhiều thế hệ con cháu của cụ. Và đến tận những ngày này, khi chút ít hài cốt của cụ Lương Ngọc Quyến đã được tìm thấy nhờ khả năng đặc biệt của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng và được an táng tại quê nhà (xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây) thì di hài của người anh hùng Đội Cấn vẫn còn chìm lấp đâu đó giữa bạt ngàn nương chè, cỏ dại.

[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên và cái chết oanh liệt của người anh hùng Lương Ngọc Quyến[/b]



[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Cụ Lương Ngọc Quyến[/b]

Sinh ra trong thời buổi loạn lạc, đất nước bị giặc ngoại xâm giày xéo, ngay từ thuở nhỏ, cậu bé Lương Ngọc Quyến đã mang trong mình lòng yêu nước và mối căm thù giặc sâu sắc. Mặc dầu được cha là cụ cử Lương Văn Can, người sáng lập ra Đông kinh nghĩa thục, kèm cặp chữ thánh hiền song cậu bé Quyến vẫn chuộng võ hơn văn. Năm 1900, đi thi hương không đậu, ông bèn rũ bỏ con đường khoa cử, dốc hết tâm trí vào việc rèn luyện trí lực, những mong có thời cơ cứu nước. Tháng 10 năm 1905, khi nhà yêu nước Phan Bội Châu phát động phong trào Đông du, ngay lập tức, Lương Ngọc Quyến lên đường, trở thành một trong bốn học sinh có mặt tại Nhật. Ngày ra đi, ông cúi đầu lạy từ cha mẹ, gạt nước mắt phân ly, làm giấy cho phép người vợ hiền cải giá, để lại nhà đứa con thơ dại, chỉ mang một số tiền vừa đủ đến Yokohama (Nhật Bản). Cái nghĩa khí của một đấng nam nhi “ra đi đầu không ngoảnh lại” ấy đã gây một niềm cảm kích mãnh liệt trong lòng lãnh tụ Phan Bội Châu. Trong Ngục trung thư, cụ Phan đã dành những lời khen ngợi tốt đẹp nhất cho Lương Ngọc Quyến: “Tôi xem ra người thật có khí phách hăng hái, đầu tóc còn để bờm sờm. Dò hỏi mới biết Lương quân đã bỏ nhà trốn sang Nhật trơ trọi một thân, lúc lên đến bến thì trong túi chỉ còn vẻn vẹn 3 xu. Thấy thế tôi vừa mừng vừa chưng hửng. Vì bạn nhỏ tuổi nước ta, một thân một bóng mà dám liều mạng xông pha sóng gió muôn trùng đến một nước mình chưa quen biết bao giờ, Lương quân chính là người thứ nhất vậy. Té ra, Lương quân vốn là một thanh niên chứa sẵn kỳ khí, có hoài bão cao xa, chỉ nghe nói tôi đã sang Đông, cho nên mạnh bạo bỏ nhà ra đi, không kể gì mọi nỗi gian nan nguy hiểm. Bạn thiếu niên anh tuấn nước ta, có mấy người được như Lương quân?!”.

Tháng 5 năm 1906, Lương Ngọc Quyến được Phan Bội Châu bố trí vào học quân sự tại Chấn Võ Học hiệu (Simbu Gakku), một trường quân sự của chính phủ Nhật Bản đào tạo sĩ quan cho Trung Quốc. Nhưng đến ngày 10 tháng 6 năm 1907, Pháp và Nhật bắt tay nhau, nên ngày 8 tháng 3 năm 1909, Phan Bội Châu cùng toàn bộ du học sinh Việt Nam bị chính phủ Nhật trục xuất. Cụ Phan cùng Lương Ngọc Quyến và một số đồng chí phải sang Quảng Đông, nương náu ở nhà Chu Bá Linh, một nữ giáo viên Trung Quốc có cảm tình với các nhà cách mạng Việt Nam.

Bấy giờ, phong trào cách mạng trong và ngoài nước đều gặp nhiều khó khăn. Cụ Phan phải đi bán sách để sinh nhai, tối về lại cùng Lương Ngọc Quyến uống rượu giải sầu. Muốn thoát khỏi cảnh cùng quẫn, Lương Ngọc Quyến tìm đường về nước để vận động tài chính. Cụ Lương Văn Can đã gom góp được 250 đồng để Quyến mang sang Trung Quốc. Tháng 10 năm 1910, cụ Phan đã dùng số tiền ấy để đưa một số đồng chí sang Xiêm cày cấy, chờ đợi thời cơ. Năm 1911, cha Lương Văn Can lại đứng ra hỏi cưới và tổ chức cho Nguyễn Thị Hồng Đính, con gái thứ hai của chí sĩ yêu nước Nguyễn Hữu Cương (làng Động Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình) sang Đông Hưng, Trung Quốc để thành hôn với Lương Ngọc Quyến. Sau đó, với tư cách là một học viên đã tốt nghiệp Chấn Võ Học hiệu, Lương Ngọc Quyến được vào học trường Quân nhu học hiệu ở Quảng Đông và trường Sĩ quan học hiệu Bắc Kinh, rồi trở thành thiếu tá trong quân đội cách mạng Trung Hoa. Đang tuổi thanh xuân, ý chí giết giặc cứu nước luôn sôi sục nên ông lao vào học tập và thực hành sở học ngay trên chiến địa Trung Hoa. Cụ Phan nhận xét: “Lúc ấy, học vấn khác, phần nhiều Lương Ngọc Quyến đều không lưu ý, duy một khoa học quân sự chiến thuật thì lại thiệt tâm nghiên cứu. Cái chí đoản đao thất mã (thanh gươm yên ngựa) e không một phút nào quên”.

Tháng 6 năm 1912, nhân cách mạng Tân Hợi (1911) thành công ở Trung Hoa, Phan Bội Châu đã thành lập Việt Nam quang phục Hội, lấy chủ nghĩa dân chủ cùng mục tiêu “khu trục Pháp tặc, khôi phục Việt Nam, kiến lập Việt Nam cộng hoà dân quốc” làm tôn chỉ. Lương Ngọc Quyến cùng Hoàng Trọng Mậu được cử làm uỷ viên quân vụ thuộc Bộ chấp hành. Khi ấy, số hội viên tập hợp ở Quảng Đông lên đến cả trăm người. Để có lương thực nuôi quân, đầu năm 1913, Lương Ngọc Quyến về nước lần thứ 2. Tại nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Hữu Cương, Lương Ngọc Quyến đã bàn với con cháu các chí sĩ tiến hành hai cuộc tập kích vào Ty rượu Thanh Ba và Dinh tuần phủ Phú Thọ Chế Quang Ân. Rất tiếc, hai trận đánh này đều thất bại, nhiều chiến sĩ cách mạng đã hy sinh anh dũng. Đến tháng 4 năm 1913, Lương Ngọc Quyến lại đưa Phan Bội Châu đến tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc) gặp người bạn đồng học cũ là Trương Huy Toản, đang giữ chức sư trưởng của quân đội Trung Hoa Dân quốc ở Hồ Nam để nhờ tài trợ. Trương Huy Toản nhận lời giúp nhưng ngay sau đó, Trung Hoa rơi vào nội chiến. “Hoạ vô đơn chí”, đang lúc gian nan thì ở trong nước lại xảy ra hai vụ đánh bom ở Thái Bình và Hà Nội khiến cho mạng lưới của Việt Nam quang phục hội bị càn quét tơi bời.

Giữa năm 1914, nhân cơ hội ở Châu Âu sắp xảy ra đại chiến, Lương Ngọc Quyến lên đường vào Sài Gòn, tìm xuống Long Xuyên gặp gỡ Dương Bá Trạc để trù tính việc đưa người sang Xiêm để khẩn ruộng, luyện quân, chuẩn bị lực lượng chờ thời cơ khởi nghĩa. Biết giặc Pháp sẽ tra xét kỹ ở biên giới Miên – Xiêm, Lương Ngọc Quyến thay đổi lộ trình, đi Hương Cảng để từ đó vòng sang đất Xiêm. Nhưng tại Hương Cảng, ông đã bị cảnh sát Anh phục bắt rồi giao cho nhà cầm quyền Pháp ở Quảng Châu Loan. Khoảng tháng 3 năm 1915, ông bị giải về Hà Nội, ra toà án binh Cao Bằng rồi lần lượt bị chuyển sang các nhà lao Hoả Lò (Hà Nội), Nam Định, Sơn Tây, Phú Thọ và lại quay về Hoả Lò. Tại đây, địch đã dùng những đòn tra tấn dã man nhất, cả những ngón nghề mua chuộc xảo quyệt song vẫn không làm lung lạc được ý chí sắt đá, nghị lực phi thường của người chiến sĩ cách mạng Lương Ngọc Quyến. Theo Việt Nam nghĩa sử lược (1918) của Đặng Đoàn Bằng và Phan Thị Hán (tức Phan Bội Châu), thì trong phiên toà xét sử Lương Ngọc Quyến tại Hà Nội, thực dân Pháp đã cho vời mẹ của ông – bà Lê Thị Lễ đến chứng kiến, hòng lợi dụng tình mẫu tử để lung lạc ý chí của ông. Nhìn thấy con mình bị gông xiềng tù tội, lòng mẹ đau đớn như cắt từng khúc ruột nhưng ra trước toà, vừa ngó thấy mặt con, cụ đã mắng: “Tao nuôi mày khôn lớn những mong báo đền nợ nước thù nhà. Nhưng mày làm thế nào để bị giặc bắt đưa ra xét sử, thật đáng xấu hổ”. Cụ bà cò cứng cỏi chất vấn quan toà: “Từ thuở còn là bào thai, chúng tôi đã dạy con về tình yêu thương giống nòi, chủng tộc. Bởi vậy, con tôi theo đuổi mục đích cứu nước là hợp với đạo lý của gia đình và của đất nước chúng tôi, sao lại gọi là phản loạn?”. Nói đoạn, cụ quay sang nói với con trai mình: “Mẹ chỉ mong con xứng đáng là công dân nước Việt đến hơi thở cuối cùng”. Là một người mẹ hiền đức, cần kiệm, tảo tần lúc thường ngày, nhưng chính trong thời khắc căng thẳng ấy, hốt nhiên, cụ bà Lê Thị Lễ bộc lộ trọn vẹn khí phách của một người mẹ Việt Nam anh hùng. Chính khí phách anh hùng của mẹ đã vun đắp thêm chí khí cho con.

Ngay trong địa ngục Hoả Lò, Lương Ngọc Quyến còn tìm mọi cách tuyên truyền, giác ngộ lòng yêu nước, căm thù giặc trong các bạn tù, kêu gọi họ nổi dậy chống thực dân. Biết không thể khuất phục được Lương Ngọc Quyến, ngày 25 tháng 7 năm 1916, thực dân Pháp bèn phạt ông án tù chung thân và đưa ông lên Thái Nguyên.

Tên Công sứ khét tiếng tàn ác Darles, để diệt trừ mầm nguy hiểm Lương Ngọc Quyến, đã sai lính dùi bàn chân của ông rồi tra xích sắt, làm cho ông bị liệt hẳn chân. Nhưng hắn không thể ngờ, hành động tàn ác ấy chỉ càng làm bùng lên ngọn lửa căm thù trong con người Lương Ngọc Quyến. Chính tại nhà tù của giặc Pháp, ông đã tìm được người đồng chí mới là Đội Cấn (tên thật là Trịnh Văn Cấn), một viên đội khố xanh yêu nước, đang phục vụ trong cơ binh Pháp ở Thái Nguyên. Xuất thân từ tầng lớp nông dân, tuy đứng trong hàng ngũ của địch nhưng Đội Cấn thấm thía vô cùng nỗi nhục mất nước và đau xót trước cảnh ngộ của đồng bào khi hàng ngày, tận mắt chứng kiến những hành động tàn ác của Darles với người bản xứ, với tù nhân, dân phu. Điều đó, đã hun đúc trong ông ý chí giết giặc cứu nước. Sau một thời gian, ông đã bí mật kết giao được với nhiều người có cùng chí hướng trong đơn vị. Lấy tư cách là Uỷ viên quân vụ thuộc Bộ chấp hành của Việt Nam quang phục hội, Lương Ngọc Quyến đã kết nạp Đội Cấn vào Hội.

Sau đó, một Ban chỉ huy khởi nghĩa đã được thành lập gồm: Đội Cấn, Lương Ngọc Quyến, Đội Giá, Đội Xuyên, Đội Nam, Đội 935 và một người đội văn thư. Kế hoạch tấn công đã được vạch ra: huy động lực lượng lính khố xanh ở trại tỉnh lỵ, các đồn lân cận (175 lính), các tù chính trị và tù thường phạm giác ngộ đánh chiếm tỉnh lỵ Thái Nguyên làm căn cứ. Khi cuộc bạo động nổ ra, sẽ có quân của Việt Nam quang phục hội từ bên ngoài vào tiếp ứng. 22 h ngày 30 tháng 8 năm 1917, ban chỉ huy hạ lệnh khởi sự. Đội Trường dẫn quân đi diệt tên giám binh Noel và các tên tay sai là Phó quản Lạp và Đội Hành. Đội Giá dẫn quân phá đề lao, diệt tên giám ngục Lô-ép, giải phóng 203 tù nhân, trong đó có Lương Ngọc Quyến. Tiếp đó, Đội Cấn tập hợp thành đội ngũ hùng mạnh, lấy đại nghĩa “giết thù cứu nước” để hiểu dụ anh em. 131 lính khố xanh đã đồng lòng hưởng ứng. Mọi người nhất trí bầu Đội Cấn làm Thái Nguyên Quang phục Quân Đại đô đốc và cử Lương Ngọc Quyến làm quân sư. Ngay đêm đó, nghĩa quân đã toả ra đánh chiếm các công sở như toà sứ, toà án, nhà đoan, kho vũ khí, kho bạc, nhà dây thép  và bao vây trại lính Pháp. Khi phá kho vũ khí, nghĩa quân đã thu được 167 súng trường và 62.175 viên đạn.

Sáng ra, nghĩa quân trương trước cửa thành lá quốc kỳ nền vàng năm sao đỏ do Việt Nam quang phục hội chế định và quân kỳ nền đỏ năm sao trắng của Việt Nam Quang phục Quân cùng bức trướng đề bốn chữ “Nam binh phục quốc”. Dùng loa tuyên bố Thái Nguyên độc lập, đặt quốc hiệu là “Đại hùng đế quốc”. Trước đó, từ ngay nửa đêm, nghĩa quân đã công bố bản “Tuyên ngôn thứ nhất” do ông Tú Nguyễn Gia Cầu khởi thảo, Lương Ngọc Quyến chỉnh sửa. Bản tuyên ngôn kể rõ tội ác của thực dân Pháp kể từ khi chúng xâm chiếm nước ta, nhấn mạnh dã tâm vơ vét của cải, đưa dân ta đi làm bia đỡ đạn ở chiến trường Châu Âu. Phần cuối, nhân danh Đại đô đốc Quang phục Quân Trịnh Văn Cấn, bản tuyên ngôn kêu gọi nhân dân đứng lên khởi nghĩa, đồng tâm hiệp lực diệt trừ giặc Pháp, dành độc lập cho tổ quốc.

Hưởng ứng lời kêu gọi, hơn 300 người dân địa phương đã tình nguyện gia nhập nghĩa quân nâng tổng số quân lên đến 623 người với võ khí tương đối đầy đủ. Cân nhắc tương quan lực lượng giữa ta và địch, Lương Ngọc Quyến và Đội Cấn đã chọn phương án cố thủ Thái Nguyên để chờ ngoại viện. Toàn thể nghĩa quân được tổ chức thành 8 đội, chia nhau đào công sự và ngăn giữ các hướng ra vào tỉnh lỵ. Lương Ngọc Quyến chỉ huy tuyến phòng thủ bên ngoài. Đội Cấn lo giữ phía trong.

Hốt hoảng trước việc tỉnh lỵ Thái Nguyên bị nghĩa quân chiếm đóng, ngày 31 tháng 8 năm 1917, thực dân Pháp cấp tốc điều quân từ Hà Nội và Đáp Cầu lên giữ đồn Gia Sàng. Sáng 2 tháng 9, bắt đầu mở cuộc tấn công với lực lượng hùng mạnh gồm 2.000 quân, có pháo binh, tàu chiến yểm trợ. Nghĩa quân đã kháng cự rất quyết liệt, tiêu diệt được 107 tên, sát thương 17 tên. Song trước kẻ địch mạnh gấp bội, nghĩa quân cũng bị tiêu hao, chỉ còn 250 tay súng nên buộc phải rút lui. Chính trong lần rút chạy ấy, Lương Ngọc Quyến đã anh dũng hy sinh.

Trưa ngày 5 tháng 9, Đội Cấn ra lệnh rút quân khỏi tỉnh lỵ để toả ra các vùng rừng núi xung quanh. Bị giặc Pháp truy đuổi ráo riết, nghĩa quân phải di chuyển suốt 4 tháng ròng từ Hùng Sơn (huyện lỵ Đại Từ), Quán Chu đến Vĩnh Yên, Phúc Yên rồi quay lại Thái Nguyên, đèo Nứa. Ngày 21 tháng 12, lực lượng của Đội Cấn tại căn cứ núi Pháo chỉ còn 30 tay súng nhưng đã đánh bật nhiều đợt tấn công liên tiếp của địch. Bị trọng thương và bị bao vây, vào lúc 21h ngày 5 tháng 1 năm 1918, Đội Cấn đã tự sát để khỏi sa vào tay giặc.

Tuy chỉ dành được độc lập vỏn vẹn có 7 ngày rồi bị địch dìm trong biển máu nhưng cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên vẫn là điểm son rực rỡ nhất của phong trào yêu nước theo đường lối bạo động. Điểm son ấy đã kết thúc một cách oanh liệt phong trào yêu nước trong hai thập niên đầu thế kỷ 20. Sau này, khi viết Phan Bội Châu niên biểu, cụ Phan một lần nữa, lại dành những lời hay nhất để ca tụng Lương Ngọc Quyến: “Việc Thái Nguyên Quang phục 7 ngày, ông thiệt là tướng tiên phong cho quân cách mệnh. Thế mới biết, người ta chỉ sợ không chí khí, không sợ không một ngày biểu hiện được. Xem ở ông Lương mà càng đáng tin lắm”. Còn học giả Nguyễn Hiến Lê, cũng không tiếc lời ca ngợi khi viết Đông kinh nghĩa thục: “Trong lịch sử cách mạng của dân tộc ta, hai cái chết đó oanh liệt và cảm động bậc nhất”.

Tuy nhiên, cái chết của người anh hùng Lương Ngọc Quyến, cho đến tận bây giờ, vẫn còn là một ẩn số đối với các nhà nghiên cứu lịch sử. Đã có nhiều giả thiết về cái chết đầy bi tráng này. Theo nhà nghiên cứu Đào Trinh Nhất thì “Đến trưa ngày 5 tháng 9, tỉnh thành thập phần nguy cấp. Quang phục quân được lệnh bỏ tỉnh thành lục tục ra đi. Đội Cấn đã xếp đặt võng cáng sẵn sàng để đưa Lương Ngọc Quyến theo quân. Nhưng ông đã khảng khái từ chối, không muốn đi theo quân để anh em chiến sĩ phải bận lòng vì mình, phải chậm trễ trên đường bạt thiệp bôn ba, mỗi bước có giặc theo sau, mỗi bước phải quay lại cự địch. Ông quyết định chết ở Thái Nguyên, lấy hồn tiễn đưa các chiến sĩ. Sau mấy câu vắn tắt yên uỷ mọi người, ông nói với Đội Cấn, thành thực và tự nhiên: Ông bắn hộ một phát vào giữa ngực cho tôi khỏi trông thấy thực dân dày xéo lên lá cờ cách mạng. Bất đắc dĩ, Đội Cấn phải làm theo ý muốn ấy. Sau đó, di hài Lương Ngọc Quyến được nghĩa quân đào hố chôn lấp tử tế và san phẳng mặt đất rồi mới từ giã tỉnh thành kéo đi”. Nhưng theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Kiệm thì “vào ngày 4 tháng 9, địch dồn hết lực lượng tấn công. Lương Ngọc Quyến trong lúc chỉ huy chiến đấu bị mảnh đại bác bắn vào đầu nên hy sinh ngay tại trận”. Chính cái chết đầy bí ẩn ấy đã dẫn đến hành trình tìm mộ dài dằng dặc ngót một thế kỷ của rất nhiều thế hệ con cháu người anh hùng Lương Ngọc Quyến sau này.

[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Kỳ 8: 84 năm, hai thế hệ đi tìm mộ cha, ông[/b]



[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Kỳ 8: 84 năm, hai thế hệ đi tìm mộ cha, ông[/b]



[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Bích Hằng đang trò chuyện với vong linh cụ Quyến[/b]

Sinh thời, Lương Ngọc Quyến có với người vợ thứ 2, bà Nguyễn Thị Hồng Đính, 3 mặt con: Lương Dân Nguyên, Lương Tân Khải và Lương Cao Vinh. Cả ba cậu con trai, bà Đính đều sinh hạ tại Trung Quốc. Năm 1917, sau khi Lương Ngọc Quyến hy sinh, bà gửi đứa con thứ 2 là Lương Tân Khải cho một phụ nữ Trung Quốc nuôi dùm rồi đưa 2 con Nguyên và Vinh về nước. Mất cha từ lúc tuổi còn thơ nhưng hình ảnh của cha với khí phách của một người anh hùng trọn đời hy sinh vì dân vì nước vẫn hiện hữu trọn vẹn, trở thành niềm tự hào trong tâm hồn hai cậu bé qua lời kể của mẹ. Sau này, trưởng thành, nỗi đau mất phần mộ cha trở thành nỗi ám ảnh, thôi thúc Nguyên và Vinh đi tìm. Nhưng hoàn cảnh thời ấy, chiến tranh thì liên miên, hết chống Pháp rồi đánh Mỹ, gia cảnh thì nghèo túng, Thái Nguyên thì mênh mông đồi núi, tin tức về cha gần như chẳng có, việc tìm mộ chẳng khác gì “mò kim đáy bể”. Năm 1967, ông Lương Cao Vinh lâm trọng bệnh mất. Gánh nặng tìm mộ cha dồn cả lên vai ông Nguyên. Năm lần bảy lượt đi tìm chẳng được. Năm 1993, tuổi cao sức yếu, ông Nguyên cũng ra đi. Trước khi mất, lời trăn trối cuối cùng với cậu con trai thứ Lương Quân vẫn là nỗi canh cánh trọn đời về phần mộ cha Lương Ngọc Quyến: “Con gắng thay cha tìm mộ ông. Bằng mọi cách phải tìm cho được. Bố linh cảm mộ ông được chôn gần một ngôi chùa nào đó trên Thái Nguyên”.

Thấu hiểu nỗi đau của cha. Nhưng biết tìm mộ ông ở đâu bây giờ? Năm 1994, qua báo chí, ông Quân biết đến khả năng tìm mộ đặc biệt của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng. Bấy giờ, tên tuổi của Bích Hằng đã vang dội cả nước qua hàng ngàn vụ tìm mộ, nhất là vụ tìm mộ tập thể 13 liệt sĩ ở Non Nước (Ninh Bình) và 5 mộ liệt sĩ ở Đông Triều (Quảng Ninh). Qua sự giới thiệu của ông Nguyễn Văn Huy, giám đốc Bảo tàng dân tộc học, quãng giữa tháng 4 năm 1994, ông Quân tìm đến nhà riêng của Bích Hằng ở Khu tập thể binh đoàn 11 (Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội) cùng bức ảnh truyền thần của ông nội Lương Ngọc Quyến được vẽ lại từ bức ảnh chụp của Sở mật thám Pháp khi ông Quyến bị cầm tù. Bích Hằng, sau khi thắp hương mời vong cụ Quyến về, cho biết: hình ảnh cụ hiện lên rất mờ, thông tin nhận được rất ít. Cụ nói, mộ cụ vẫn còn nhưng cốt không còn nhiều, được chôn gần một ngôi chùa nào đó ở Vô Tranh, huyện Phú Lương hay Phú Bình gì đó. Địa điểm không rõ lắm nên gia đình cứ lên đó mà tìm, hy vọng sẽ có người biết mà chỉ dùm.

Vài ngày sau, ông Quân tìm đường lên Thái Nguyên. Xem bản đồ, chỉ có xã Vô Tranh thuộc huyện Phú Lương. Ông bèn nhờ người cậu ruột, nguyên là cán bộ quân khu Việt Bắc giới thiệu với ông trưởng thôn Thống Nhất, xã Vô Tranh dẫn đi tìm. Phú Lương ngày ấy rừng núi còn rậm rạp, hoang vu, nhà nọ cách nhà kia một quả đồi. Sục vào từng nhà, gặp gỡ các cụ cao niên trong làng để hỏi nhưng chẳng ai biết gì về cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917, huống hồ là thông tin về phần mộ cụ Lương Ngọc Quyến. Bác trưởng thôn đưa ông Quân đến hai ngôi chùa trong xã. Một ngôi có tên là chùa Lụa nằm trên một quả đồi nhưng đã đổ nát hoàn toàn, chỉ còn lại những hòn đá kê chân cột. Xung quanh là rừng nứa ngút ngàn. Dưới chân đồi có một gia đình người Thái Bình lên khai hoang lập nghiệp từ những năm 1950. Hỏi về cụ Quyến, họ lắc đầu nguây nguẩy không biết, lại còn nghi ngờ ông Quân đi tìm đồ cổ. Ngôi chùa thứ hai cũng toạ lạc trên một sườn đồi, bạt ngàn sắn. Ông trưởng thôn cho biết, ngôi chùa này đã bị cháy lâu lắm rồi, do Pháp đốt. Nền chùa chính là chỗ đã mọc lên cây ngái to cỡ một người ôm. Người chủ nương sắn đã đan một tấm liếp nhỏ, dưới đặt bát hương để cúng vái thần linh vào những ngày rằm, mồng một. Đến hai ngôi chùa, ông Quân đều thành tâm thắp hương cầu nguyện, đi xung quanh quan sát địa hình kỹ lưỡng, hy vọng tìm thấy một dấu hiệu nào đó nhưng vô vọng.

Trở về Hà Nội, ông gặp Bích Hằng, kể lại chuyện lên Thái Nguyên tìm mộ cụ Quyến. Bích Hằng khuyên ông nên nhẫn nại, kiên trì. Chị khẳng định mộ cụ còn nhưng hiện thời chị chỉ giúp được thế. Sau đó, ông Quân có đến gặp Bích Hằng vài lần nữa nhưng cùng không thu được thông tin gì mới. Cũng trong thời gian ấy, anh em ông Quân có nhờ một số nhà ngoại cảm tiếng tăm khác như ông Đỗ Bá Hiệp (Hà Nội), ông Tư Liên (Đà Nẵng)  nhưng sự việc cũng chẳng sáng sủa gì. Giữa lúc tưởng chừng bế tắc, không còn một tia hy vọng gì thì ông Quân bất ngờ nhận được tin nhắn của Bích Hằng: đã có thông tin về phần mộ cụ Lương Ngọc Quyến. Ngay lập tức, ông Quân cùng ông Cơ, người em con ông chú ruột, vội vã đến nhà Bích Hằng. Chị vui mừng thông báo: chị vừa lên xã Vô Tranh, huyện Phú Lương tìm mộ nhà báo Thôi Hữu, hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong lúc “trò chuyện” với vong liệt sĩ Thôi Hữu, ông cho biết, quả đồi bên kia có mộ của người anh hùng Lương Ngọc Quyến. Rất tiếc, lúc đó trời đã sâm sẩm tối nên Bích Hằng không sang được.

Lần này, đến gặp Bích Hằng, ông Quân đã tháo bức ảnh cụ Lương Ngọc Quyến mà gia đình đã thờ phụng mấy chục năm nay. Bức ảnh này được chụp lại từ bức ảnh của Sở mật thám Pháp, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng cách mạng Việt Nam. Khi nói chuyện với vong cụ Quyến, chị Hằng nói cụ hiện lên rất rõ, cằm vuông, mắt sáng, đặc biệt là thông tin về phần mộ cụ rất nhiều. Cụ chỉ dẫn: Đi qua cây cầu có tên Rùng Rình thì tạt vào bên phải đường. Qua một thửa ruộng, lên một quả đồi, trên đó có một ngôi nhà ngói. Phía đầu hồi nhà có một bụi tre, một chuồng nuôi gia súc, dưới chân đồi có một cái ao. Giữa bụi tre và ao là một cây bạch đàn lớn mới bị chặt, trên gốc cây vừa nhú lên hai mầm non. Cụ nằm dưới gốc cây bạch đàn ấy.


[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Bứng gốc cây bạch đàn[/b]

8h ngày 23 tháng 12 năm 2001, chiếc xe Toyota 12 chỗ ngồi xuất phát từ Hà Nội đi Thái Nguyên. Đoàn đi bốc mộ gồm đông đảo con cháu cụ Lương Ngọc Quyến cùng nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng và đại tá Hàn Thuỵ Vụ, Phó chủ nhiệm Bộ môn cận tâm lý (Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người). Trước khi đi, thực hiện đúng lời dặn của Bích Hằng, gia đình đã thắp hương trên bàn thờ gia tiên, trình bày toàn bộ sự việc, xin phép lên đón cụ Lương Ngọc Quyến về. Hành trình đi khá thuận lợi. Thông tin kiểm chứng đầu tiên là cây cầu Rùng Rình, vốn trước đó là một cây cầu tre, khi đi qua thì cầu rung rinh, nay mặc dầu đã được bê tông hoá kiên cố song dân địa phương vẫn gọi bằng tên cũ: cầu Rùng Rình. Vị trí hài cốt cụ Lương Ngọc Quyến cũng nhanh chóng được xác định, trùng khớp với những thông tin Bích Hằng cho từ Hà Nội: Nương chè, bụi tre, chuồng gia súc (gia chủ mới dỡ bỏ), ao, gốc cây bạch đàn có hai mầm tái sinh. Chủ của nương chè này là ông Bân, năm nay chừng 50 tuổi, quê gốc Thái Bình, lên đây khai hoang từ cuối những năm 1970. Trước đó hai ngày, ông Quân đã lên đây, trình bày nguyện vọng với UBND xã Vô Tranh và gia đình ông Ban, xin được giúp đỡ. Vì hài cốt của cụ Quyến nằm trên nương chè của ông Bân nên việc khai quật sẽ ảnh hưởng ít nhiều. Ông Bân bảo: “Việc gia đình tìm mộ là việc nghĩa nên cứ thoả mải tiến hành”. Tuy nhiên, buổi sáng hôm đoàn lên khai quật, trong khi bà vợ săng sái đi đun nước, thành kính giúp đoàn lập bàn thờ thắp hương vì tin tưởng vào chuyện tâm linh, vào khả năng tìm mộ đặc biệt của nhà ngoại cảm thì ông chồng cứ chắp tay sau hông đứng nhìn, cười khành khạch, cho đấy là chuyện hoang đường, mê tín dị đoan.

Trước khi khai quật, Bích Hằng thắp hương tại mộ, mời cụ Quyến lên trò chuyện. Điều bất ngờ đầu tiên là vong của cụ bà Nguyễn Thị Hồng Đính cùng các con: Nguyên, Vinh cũng lên theo. Cuộc trò chuyện kéo dài gần hai tiếng đồng hồ trong sụt sùi nước mắt và tiếng cười (đã được gia đình ghi âm và đại tá Hàn Thuỵ Vũ quay phim đầy đủ, nay chất lượng băng còn khá tốt – PV) với rất nhiều thông tin mà gia đình ông Quân, ông Cơ xác nhận sau này là chính xác đến… 100%. Điều ngạc nhiên là có nhiều chuyện rất bí mật, riêng tư, chỉ rất ít người trong gia đình biết mà Bích Hằng cứ nói… vanh vách, khiến cả nhà… choáng. Ví như vừa thấy Bích Hằng reo: “Cụ bà cũng về đấy” đã thấy cụ trách (qua nhà ngoại cảm): “Sáng nay chúng may thắp hương sao không hoá vàng?”. Mọi người hướng sang cô Dung, vợ chú Thắng (em trai ông Quân). Cô Dung bảo: “Trước khi đi, em đã dặn anh Thắng hoá rồi cơ mà?!”. Nói xong, cô rút máy điện thoại di động, điện về nhà. Chú Thắng giật mình bảo: “Chết thật! Sáng anh vội đi dạy học nên quên chưa hoá”. Một lát, cụ bà lại bảo: “Hôm qua, ở quê vui lắm. Xã được tuyên dương anh hùng. Bao nhiêu anh em họ hàng nhà mình đều được nêu danh”. Cả nhà ngớ người, nhớ ra hôm qua (ngày 22 tháng 12 năm 2001), xã Vũ Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình – quê của cụ bà Nguyễn Thị Hồng Đính, vừa tổ chức lễ đón nhận danh hiệu anh hùng thời kỳ chống Pháp. Trong danh sách các anh hùng liệt sĩ có công với nước, có rất nhiều người thân của bà: ông nội là Nguyễn Mậu Kiến (1819 – 1879), thủ lĩnh văn thân chống Pháp ở Thái Bình. Cha là chí sĩ Cần Vương và Duy Tân Nguyễn Hữu Cương (1855 – 1912), cùng đông đảo anh em, cháu, chắt của bà từng được ghi danh trong sách sử của tỉnh.

“Thằng Long đâu rồi, bốc mấy nắm đất trên mộ ông cho bố mày khỏi đau bụng”. Nghe cụ bà gọi, cả nhà lại giật mình. Long là con chú Thắng, mới học lớp một. Thắng bị bệnh thận phải mổ. Vết mổ gần chục năm rồi vẫn cứ rỉ nước vàng, người đau yếu rất khó chịu. Cháu Long vâng lời, làm đúng lời cụ dặn. Chừng một tuần sau, vết thương lành, đến tận những ngày này (tháng 10 năm 2006) vẫn chưa thấy hiện tượng gì, trong khi trước đó, Thắng chạy khắp các bệnh viện, gõ cửa nhiều giáo sư, bác sĩ, thầy lang mà không khỏi.

Bích Hằng reo: “Ông Nguyên cũng lên đây này”. Ông Nguyên là con cả của cụ Lương Ngọc Quyến. Ông Nguyên bảo: “Thằng Chính mua cho tao cái vé máy bay để tao vào Sài Gòn chơi”. Chính nghe vậy, bưng mặt khóc tu tu. Chính là con ông Vinh, cháu gọi ông Nguyên là bác ruột, hiện lập nghiệp trong Sài Gòn. Khi còn sống, ông Nguyên luôn muốn vào Sài Gòn chơi với họ hàng, bạn bè, con cháu. Nhưng vì ông to béo, lại già yếu, nhiều bệnh tật, chuyện sinh hoạt cá nhân còn không tự làm được thì đi làm sao? Có lần, ông bí mật mua vé máy bay định trốn vào Sài Gòn chơi, may con cháu phát hiện ra kịp thời ngăn cản. Anh Chính bảo: “Chuyện này chỉ những người thân trong gia đình tôi biết và đã xảy ra từ 20 năm trước, cô Hằng không thể biết được”. Anh Chính hỏi Bích Hằng: “Cô thấy ông Nguyên hình dáng thế nào?”. Bích Hằng cười, bảo: “Ông lão to lớn, râu dài bạc phơ, mắt lúc nào cũng cười”. Anh Chính xác nhận, rất đúng với vóc dáng và tính cách của ông Nguyên.

Cuộc gặp gỡ, trò chuyện kéo dài đến 12 giờ trưa. Cụ Lương Ngọc Quyến vội giục: “Các cháu mau căng bạt che nắng để chuẩn bị đào. Xương cốt ông còn rất ít. May ra có thể thấy cái cùm sắt vì khi giam ông, giặc Pháp đã cùm ông rất chặt, xiên cả dây thép qua chân nên không tháo ra được. Khi chôn, ông nằm nghiêng, chân co, lưng quay về chân đồi. Rễ cây bạch đàn ăn vào chân ông khiến ông rất đau. Chính ông làm cho nó chết. Lát nữa, có nhiều nghĩa quân khởi nghĩa năm xưa đến đây để tiễn đưa ông. Các cháu nhớ nấu cho ông nồi cháo to để ông chiêu đãi quân sĩ”.

Việc đầu tiên là phải bứng gốc cây bạch đàn có đường kính hơn 30cm lên. Khi gạt hết phần đất mượn do trong quá trình làm nương, chủ nhà đã san lấp bớt cho đỡ dốc, đến phần đất cũ độ 20cm, Bích Hằng gạt mọi người ra, bảo: “Sắp đến hài cốt của cụ rồi. Cháu phải trực tiếp xuống vì mọi người không biết đâu mà xác định. Cụ bảo: đầu cụ là chỗ chú Tiến đứng (Tiến là anh ruột ông Quân). Chân cụ là nơi chú Chính đứng”. Cả nhà lại một lần nữa bị bất ngờ vì trước đó, không ai nói tên Tiến và Chính cho Bích Hằng biết. Tiếp xúc với Hằng, từ trước đến nay chỉ có 3 người: ông Quân, ông Cơ và cô Phấn (em gái ông Cơ).


[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Từ trái qua phải: Ông Lương Cơ, Lương Quân, cô Lương Phấn[/b]

Sau khi gạt thêm một vài lớp đất mỏng, Bích Hằng reo khẽ: “Cốt cụ đây rồi”. Trăm con mắt đều nhìn xuống hố, thấy rõ hình hài một bộ xương người trong tư thế nằm nghiêng, chân co lại. Xương ống đùi, cẳng chân với các đầu xương phình to hằn rõ trên nền đất. Phần ngực có rất nhiều bột trăng trắng, trong khi xung quanh là đất đen pha đá dăm. Bích Hằng dặn: “Cốt cụ vì chôn quá lâu, lại chẳng có hòm ván gì cả nên tan ra hết. Cụ dặn các chú nhớ bốc những đất lẫn cốt đem về để táng”.


[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Xương cốt cụ Quyến lẫn vào trong đất cát[/b]

Trong khi ông Quân, ông Cơ đang cặm cụi nhặt từng mẩu xương cùng đất vụn cho vào bọc vải đỏ thì trong sân, ông chủ nhà  mắt tái xanh, hốt hoảng chạy vào nhà thắp hương lạy như tế sao. Thấy lạ, chị Phấn mới kéo bà vợ ra hỏi nhỏ. Chị vợ cười, bảo: “Nhà em từ xưa đến nay không bao giờ tin vào chuyện vong hồn, thần thánh. Ngày hôm kia, khi bác Quân lên đây, có một đàn chim về rất đông, hót ríu ran trên bụi tre. Đêm qua, đột nhiên nhà em nằm mơ, thấy ở chỗ gốc cây bạch đàn có một vật đen tròn. Nhà em bèn vác cuốc ra cuốc hối hả chỗ ấy, rồi nghe thấy tiếng người bảo: ngày mai, con cháu tôi sẽ lên đón tôi về. Choàng tỉnh giấc, nhà em liền kể ngay với em song lại bảo: Chắc là tại ngày tôi nghĩ nhiều nên đêm mới mơ như vậy. Định bụng, cứ để mọi người xem thế nào. Nay, thấy mọi việc diễn ra đúng như trong mơ nên ông ấy mới sợ, vội vã thắp hương để tạ lỗi với cụ. Chứ từ ngày lấy nhà em, có bao giờ thấy ông ấy cúng vái bao giờ đâu”.

Sau khi công việc đã hoàn tất, nhìn sang quả đồi bên cạnh, cách chỗ vừa khai quật vài thửa ruộng, ông Quân thấy một tốp thợ đang đục đẽo gỗ để dựng nhà. Hỏi vợ anh Bân, được biết, thôn Thống Nhất đang dựng lại ngôi chùa trên nền cũ. Ông Quân cầm thẻ hương sang thì nhận ra, đó chính là ngôi chùa ông đã từng lên thắp hương, bát hương ngày ấy được đặt tạm lên cây ngái giữa bạt ngàn nương sắn. Ông chợt giật mình, nhớ lại cách đây 8 năm, Bích Hằng đã cho thông tin mộ cụ được đặt gần một ngôi chùa và băn khoăn không hiểu vì sao, trước khi mất, cha ông cũng dặn chắc như đinh đóng cột như thế?

Chi tiết cái cùm ở chân cụ Quyến, Bích Hằng nói “có thể còn” nhưng lúc đào lên không thấy. Tuy nhiên, tại khu vực phía chân cụ, mọi người thấy một vết đất vàng vàng như rỉ sắt. Có thể, trải qua hơn 80 năm mưa nắng, chiếc cùm sắt đã rỉ tiêu hết cả rồi?

Chiều ngày 23 tháng 12 năm 2001, tức mồng 9 tháng 11 năm Tân Tỵ, tại xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, lễ truy điệu và an táng nhà yêu nước Lương Ngọc Quyến đã được Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận tổ quốc và nhân dân xã cùng các thế hệ con cháu nội ngoại của ông long trọng tiến hành. Trên bia mộ ông, trân trọng đề dòng chữ: “Cụ ông Lương Ngọc Quyến (1885 – 1917), lãnh tụ khởi nghĩa Thái Nguyên”. Bên cạnh là bia mộ của bà Nguyễn Thị Hồng Đính. Phía trên, giữa hai bia là phù điêu tạo hình lá quân kỳ nền đỏ năm sao trắng của Việt Nam quang phục quân.

Như vậy, trải qua 84 năm đằng đẵng, cả hai thế hệ con, cháu cất công tìm kiếm, di hài của người anh hùng Lương Ngọc Quyến đã được an nghỉ tại quê nhà. Người hạnh phúc nhất có lẽ là ông Lương Quân. Bởi việc tìm được phần mộ ông nội Lương Ngọc Quyến vừa là việc hiếu đễ với tổ tiên, vừa trút được nỗi canh cánh nặng trĩu trong lòng người cha thân yêu suốt một đời đau đáu. Duy có một điều làm ông còn day dứt, khiến niềm vui kia của ông chưa trọn vẹn. Đó là phần mộ của người anh hùng Đội Cấn, vị lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm xưa, người bạn chiến đấu của cụ Lương Ngọc Quyến vẫn còn vùi lấp đâu đó trên những đồi núi điệp trùng Thái Nguyên. Hôm lên Vô Tranh đưa hài cốt cụ Quyến về quê nhà, qua Bích Hằng, được biết cụ Đội Cấn có đến chia vui và tiễn biệt người bạn. Lúc đó, cụ Đội Cấn có nhắn qua Bích Hằng vị trí nơi chôn cất. Sau này, khi đài báo đưa tin đã tìm được mộ cụ Lương Ngọc Quyến, có một vị cao niên nhận là cháu cụ Đội Cấn, tìm về Nhị Khê thắp hương. Song rất tiếc, gia đình ông Lương Quân không được gặp và vị khách ấy cũng không để lại địa chỉ. Nay, qua Thế giới mới, anh em ông Lương Quân xin nhắn nhủ: nếu con cháu cụ Đội Cấn đọc được những thông tin này và muốn tìm hài cốt cụ, xin vui lòng liên lạc với ông theo địa chỉ: Lương Quân, số 9 Núi Trúc, quận Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại: 04.8464679.

[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]* Trong bài viết này, chúng tôi có sử dụng một số tư liệu trong cuốn “Lương Văn Can và phong trào Duy Tân – Đông Du”  của nhà nghiên cứu Lý Tùng Hiếu.[/b]

[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Kỳ 9: Tìm mộ vị lãnh tụ nông dân Hoàng Công Chất[/b]


[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]và sự chắp nối kỳ diệu gia phả dòng họ Hoàng Văn[/b]





[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Kỳ 9: Tìm mộ vị lãnh tụ nông dân Hoàng Công Chất[/b]

[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]và sự chắp nối kỳ diệu gia phả dòng họ Hoàng Văn[/b]


[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng[/b]

Trong suốt hành trình 15 năm phát tâm nguyện đi tìm những ngôi mộ bị thất lạc giúp đời, nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, bằng khả năng đặc biệt, đã tìm được khoảng 7.000 hài cốt, trong đó phần lớn là hài cốt liệt sĩ. Đó thực sự là một kỳ tích,  đem lại niềm hạnh phúc nghẹn ngào cho hàng vạn người sau nhiều năm đỏ mắt mỏi mòn ngóng trông. Với chị, mỗi chuyến đi là một kỷ niệm. Mỗi cuộc tìm kiếm hài cốt là cả ngàn những tình tiết ly kỳ, xúc động, huyền bí không thể nào quên. Nhưng, hành trình đi tìm mộ người anh hùng nông dân Hoàng Công Chất đợt đầu năm 2005 có lẽ ám ảnh chị nhiều nhất. Đó không chỉ là sự ám ảnh bởi sự linh ứng đến kỳ lạ giữa cõi vô hình và hữu hình, giữa cõi âm và dương mà đó còn là sự chắp nối kỳ diệu của rất nhiều chi tộc dòng họ Hoàng sau hơn hai trăm năm dâu bể.

[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Từ lời sấm truyền trong dòng họ[/b]

Một buổi chiều đầu tháng giêng năm 2005, có hai người khách lạ tìm đến nhà Phan Thị Bích Hằng. Người đàn ông mặc bộ Veston chừng 45 tuổi, mặt mũi khôi ngô, tuấn tú. Người phụ nữ đi cùng trạc 40, mặt trái xoan, dáng người thanh mảnh, quyền quý. Người đàn ông tự giới thiệu, anh là Hoàng Văn Khánh, chủ tịch Hội đồng quản trị, kiêm Tổng giám đốc công ty Placo và em gái Hoàng Thị Sáu, quê Hải Phòng. Sau một chút bối rối, anh trình bày những uẩn khúc, trăn trở bao năm đè nén trong lòng khiến tâm bất an. Anh kể: Từ hồi còn nhỏ, anh đã từng nghe cha chú, trong nhịp dịp chén thù chén tạc, rung đùi vuốt râu tự hào về dòng dõi, tổ tiên. Nghe đâu, cụ tổ anh là thủ lĩnh nghĩa quân chống lại triều đình Lê – Trịnh. Năm 1770, linh cảm về một ngày đen tối đang đến gần, cụ cho người đưa 3 cháu nội về tổng Cổ Trà Nghi Dương (nay là thôn Ngọc Tỉnh, xã Tân Trào, huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng) những mong bảo tồn nòi dống. Có một câu sấm truyền từ đời nọ đến đời kia trong dòng họ Hoàng: “Bao giờ phát phú phát vương. Tầm lại cố hương. Bái tạ tiên đường. Nơi đó có chữ Hoàng gia đại tộc”. Sau này, trước lúc lâm chung, cha anh, rồi người chú ruột, cứ níu chặt tay anh mà dặn dò: “Con gắng tìm cội nguồn tiên tổ”. Lời trăn trối ấy cứ ám ảnh anh Khánh. Có uẩn khúc gì trong lời nói, tự sâu thẳm ánh mắt của cha?


[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Anh Hoàng Văn Khánh đang thắp hương trước tượng cụ Hoàng Công Chất[/b]

Khi trở thành một doanh nhân thành đạt ở Hải Phòng, ngẫm về lời sấm truyền tụng bao đời: “Bao giờ phát phú phát vương”, nhớ đến ánh mắt như van vỉ của cha trước lúc đi xa, anh Khánh quyết chí đi tìm tổ tiên dòng họ. Anh đi khắp nơi, ở đâu có đền thờ họ Hoàng là tìm đến nhưng mãi vẫn không thấy chữ “Hoàng gia đại tộc”, thấy cội nguồn tổ tiên. Một lần về Nam Định công tác, gặp một nhà nghiên cứu văn hóa lão thành, anh trải nỗi lòng mình. Nghe xong, nhà nghiên cứu cười khà: “Có lẽ, cụ tổ họ Hoàng đã run rủi ta làm sứ giả cho anh đây. Anh hãy về thôn Hoàng Xá, xã Nguyên Xá, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xem. ở đó, có nhà thờ dòng họ Hoàng Văn to lắm”. Vâng lời, anh Khánh tìm đường về Nguyên Xá, xin được vào thắp hương nhà thờ họ Hoàng. Anh chợt run bắn người khi nhìn thấy bức hoành phi treo chính giữa ban thờ với bốn chữ đại tự viết bằng chữ thảo: “Hoàng gia đại tộc”. Và oà khóc nức nở khi lật giở cuốn gia phả đã ố màu thời gian, thấy ghi chi tộc họ Hoàng Văn ở Hải Phòng. Té ra, cụ tổ của anh chính là người anh hùng nông dân Hoàng Công Chất. Cụ sinh ra tại Thủ Trì, Sơn Nam, nay là Hoàng Xá, Nguyên Xá, Vũ Thư, Thái Bình. Cụ là thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra năm 1739 cùng hai cuộc khởi nghĩa lớn khác của cụ Nguyễn Hữu Cầu (tức Quận He) và cụ Lê Duy Mật.

Nhưng mộ phần cụ Hoàng Công Chất ở đâu? Các con cháu cụ lưu lạc nơi nào? Đã rất nhiều năm anh Khánh cất công đi tìm kiếm di hài của cụ Hoàng Công Chất và mong muốn dựng lại hoàn chỉnh sơ đồ phả tộc mà không thành. Tình cờ, một lần, anh được đọc một tập tài liệu viết về hành trình đi tìm người em gái, vốn là một nữ du kích gan dạ của đội Hoàng Ngân năm xưa, của nguyên Phó thủ tướng chính phủ Trần Phương, dưới sự chỉ dẫn của nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã, đặc biệt là khả năng gọi hồn của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng (Chuyện sẽ kể chi tiết ở phần sau – PV) với rất nhiều tình tiết ly kỳ, huyền bí. Điều đó, thôi thúc anh tìm gặp Bích Hằng, nhờ chị tìm hộ di hài tiên tổ và các chi tộc bị thất lạc.

Ba ngày sau. Vào một đêm mưa dầm sùi sụt, rét cắt da cắt thịt, vừa chợp mắt được một lát, Bích Hằng chợt nghe thấy tiếng vó ngựa, tiếng gươm khua. Chaỵ ra sân mở. Chị giật mình khi thấy trước mặt là một người đàn ông quắc thước, da nâu, trống gươm đứng nhìn chị. Quan sát kỹ, thấy trang phục, tướng mạo đúng là một võ tướng. Xung quanh, có rất nhiều binh lính. Võ tướng cười, bảo: “Cháu đừng sợ. Ta là võ tướng họ Hoàng. Còn đây là quan quân của ta. Cháu đi về với ta đi. Con cháu ta đang mong đợi cháu từng ngày”. Nói đoạn, ông lên ngựa đi. Hình bóng khuất xa rồi mà tiếng cười hiền hậu còn vang mãi.

Bích Hằng choàng tỉnh. Chị sực nhớ đến chiếc các-vi-dít mà hai người khách họ Hoàng ở Hải Phòng để lại chiều hôm nọ. Đọc kỹ, thấy ghi: Hoàng Văn Khánh. Tổng giám đốc Công ty Placo. Trụ sở: Km5, đường Phạm Văn Đồng, Anh Dũng, Kiến Thuỵ, Hải Phòng. Điện thoại: 0913.24004. Bên tai chị lại văng vẳng lời nhờ cậy thiết tha của vị võ tướng họ Hoàng. Sáng sớm hôm sau, chị chủ động điện thoại cho anh Khánh, hẹn ngày 16 tháng giêng (âm lịch), chị sẽ xuống Hải Phòng tìm giúp.

[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Đến những tín hiệu cho trước[/b]

Đúng hẹn, sáng ngày 16 tháng giêng, Bích Hằng có mặt tại nhà thờ họ Hoàng ở xã Tân Thành, huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng. Đi cùng chị hôm đó, còn có nhà nghiên cứu Quan Lệ Lan, thư ký của Bộ môn cận tâm lý (Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người). Trước sự chứng kiến, thành tâm của đông đảo con cháu họ Hoàng, Bích Hằng đã vời vong linh của cụ Hoàng Công Chất về trò chuyện. Qua Bích Hằng, cụ bảo: “Những người đi theo triều đình thì coi ta là giặc cỏ. Nhưng nhân dân lại coi ta là anh hùng. Ta vẫn thích sống trong lòng dân hơn. Còn với các con các cháu, ta là giặc cỏ hay anh hùng, điều đó ta không cần quan tâm nữa. Chỉ biết rằng ta là cụ tổ của các con. Trước kia, ta đã cùng các tù trưởng Lò Ngải, Lò Khanh, Lò Thang đánh giặc giữ biên thuỳ. Nay ta đang ở đất châu Điện Biên. Đáng khen các con đã làm được những việc khiến ta thấy được an ủi nơi chín suối, mát mặt với tướng sĩ ba quân”. Anh Khánh chắp tay thành kính, giọng run run: “Thưa tổ! Xin tổ cho chúng con biết, hiện giờ mộ tổ ở đâu”. Cụ Hoàng Công Chất nói (qua Bích Hằng): “Các con cứ lên Thành Bản Phủ. Cứ nơi nào trồng cây đa là có nghĩa quân của ta. Trước kia, nhà Lê Trịnh đã cho quân khai quật mộ ta rồi chặt làm 3 khúc. (Chuyện này, chính sử cũng có nhắc đến). Chân ta, chúng ném xuống sông Nậm Rốn. Đầu, thân thì vứt lăn lóc. Đêm, nghĩa quân của ta lén đi lấy. Thân thì chôn ở gần sông Nậm Rốn nhưng cách đây ít năm, người ta đã ủi đi rồi. Đầu thì vác về gần Thành Bản Phủ, chôn dưới một gốc cây đa. ở đó có một cây thuốc. Khi các con đi tìm ta, sẽ có một người răng vổ gốc Thái Bình ra dẫn đường”.

Đang “thông dịch” cho mọi người nghe, bất chợt, Bích Hằng nhìn thấy một thiếu phụ trẻ người Thái, đứng cạnh cụ Hoàng Công Chất bưng mặt khóc. Lấy làm lạ, Bích Hằng hỏi, cụ Chất bảo: “Đây là liệt nữ Lò Thị Nương, con một vị tù trưởng ở Điện Biên”. Xưa, nàng đi theo cha đánh giặc, cảm phục tài đức của tướng Hoàng Công Chất, nàng tình nguyện làm vợ thứ 4. Sở dĩ cụ Chất gọi bà là liệt nữ vì bà đã hy sinh cho nghĩa quân. Chuyện rằng: trong một lần bị giặc Phẻ truy kích, bà cùng con trai là Hoàng Công Trực đã đánh lạc hướng cho nghĩa quân rút lui. Bắt được hai mẹ con, giặc đã đem bà ra làm mồi nhử. Chúng trói hai người vào chiệc cột gỗ chôn giữa đồng Tông Khao, xung quanh chất củi cao ngập đầu. Nếu tướng Hoàng Công Chất muốn chuộc vợ, con thì phải mở cổng thành. Bằng không, chúng sẽ thiêu cháy. Từ dưới đồng, bà Lò Thị Nương thét to: “Không được mở cổng thành”. Lửa cháy ngùn ngụt. Hai mẹ con bà bị thiêu chết. Xót thương người vợ hiền, cụ Chất cho trồng một cây đa trên mộ nàng. Nơi đây bốn mùa hoa nở. Hoa vàng và hoa đỏ. Cụ bảo: “Đó là những tín hiệu ta cho để các con đi tìm mộ. Khi đi, sẽ có một phụ nữ dân tộc Thái dẫn đường”.

[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Đi tìm di hài tổ tiên: sự linh ứng đến kỳ lạ[/b]

Một tháng sau ngày chiêu hồn cụ Hoàng Công Chất tại nhà thờ họ Hoàng ở Hải Phòng, sáng ngày 29 tháng 3 năm 2005, khoảng 50 người, già trẻ, gái trai đủ các chi ngành cùng nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng lên Điện Biên tìm mộ. Thành Bản Phủ là nơi đoàn đặt chân đầu tiên. Những nghi lễ trang trọng nhất đã được cử hành tại đây. Ông trưởng chi Hoàng Văn Nhương thành kính dâng sớ, cầu xin tổ tiên linh hiển, báo cho con cháu biết nơi tổ yên nghỉ để con cháu được tu sửa, thờ vọng. Lời khấn vừa dứt, sớ chưa kịp hoá bỗng một cơn gió lớn từ đâu ào đến. Và những thanh âm nghe “lách cách, lách cách” như hàng ngàn tiếng gươm khua khiến cả đoàn, đang thành kính chắp tay làm lễ đồng loạt quay lưng lại phía sau. Lại một cơn cuồng phong cuốn bụi mịt mù. Mọi người hốt hoảng chạy ra sân. Một cảnh tượng lạ lùng đập vào mắt khiến khiến tất cả đứng chết lặng: nền sân gạch đỏ giờ ngập tràn lá xanh. Có những chiếc lá còn non tơ. Tịnh không có một chiếc lá vàng nào. (Giữa xuân, kiếm đâu ra lá vàng?!). Đó là lá của ba cây đa, si, xanh quấn quýt trước đền trút xuống, tương truyền, do chính tay cụ Hoàng Công Chất trồng, như một lời nguyền với non sông giữ tình đoàn kết giữa miền xuôi và miền ngược, thề đòi lại và giữ yên biên cương đất nước. Cây đa là cụ. Cây đề là trời đất. Còn cây si loà xoà gốc rễ là dân tộc Thái. Qua Bích Hằng, cụ bảo, đấy là cụ khóc mừng khi th
avatar
TLT

Tổng số bài gửi : 2017
Join date : 24/10/2010
Age : 49
Đến từ : Tổ 11 - Ph Nghĩa Chánh - TP Quảng Ngãi

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Bài gửi  TLT on Fri Jun 28, 2013 10:02 am

[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Tìm em theo sơ đồ của nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã[/b]

Giáo sư Trần Phương, nguyên Phó thủ tướng chính phủ, hiệu trưởng trường Đại học kinh doanh và công nghệ Hà Nội, có một người em gái, sinh năm 1929, tên là Vũ Thị Kính. Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, ngay từ năm 16 tuổi, cô Kính đã đi tham gia kháng chiến, trở thành một nữ giao liên gan dạ với bí danh Trần Thị Khang. Năm 1950, cô trở thành Huyện uỷ viên Đảng bộ Phù Cừ, Bí thư Hội phụ nữ cứu quốc huyện, người tổ chức và chỉ huy đội nữ du kích Hoàng Ngân nổi tiếng. Tháng 6 năm 1950, giặc bắt được cô, đưa về bốt La Tiến, một đồn binh lớn án ngữ phía nam tỉnh Hưng Yên, phía bắc tỉnh Thái Bình và phía tây tỉnh Hải Dương. Tại đây, giặc đã dùng mọi cực hình tra tấn dã man nhất (chuyện sẽ kể ở phần sau – PV) nhưng người nữ du kích kiên trung ấy vẫn không hé nửa lời. Tức giận, giặc đã cắt cổ cô rồi vứt xác xuống sông Luộc. Sau cái chết anh hùng ấy của cô, đội nữ du kích Hoàng Ngân đã phát động “Tuần lễ giết giặc, trả thù cho chị Khang”.


[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Cô Trần Thị Khang[/b]

Mặc dầu Huyện uỷ và đội nữ du kích Hoàng Ngân đã đi khắp các bến đục dòng trong những mong tìm xác cô mà không thấy. Thương con, người mẹ già khóc mờ cả mắt. Suốt mấy chục năm ròng, thỉnh thoảng, mẹ lại ngước đôi mắt đục mờ như cùi nhãn khô về phía giáo sư Phương, hỏi bằng cái giọng tủi hờn, xót xa: “Có tìm thấy xác em không hả con?”. “Bao giờ hết chiến tranh, con sẽ đi tìm. Chắc là thấy mẹ ạ!”. Miệng thì trả lời mẹ thế mà họng thì thấy nghẹn đắng. Cả một dòng sông Luộc mang mang, cuồn cuộn sóng trôi ra biển cả, biết tìm em nơi nào?

Mẹ mất. Tin tức về phần mộ em vẫn biền biệt phương trời. Giáo sư Phương lúc nào cũng sống trong cảm giác day dứt, đau xót, không yên. Năm 1989, khi đó, giáo sư Phương đang làm Viện trưởng viện nghiên cứu chiến lược phát triển, có xuống công tác tại Sở kinh tế đối ngoại (cũ) Quảng Ninh. Nghe anh em dưới đó đồn rằng, cách Bãi Cháy, về phía Hà Nội 20 km, có một cô công nhân, trước vốn bị tan nạn lao động, nay có khả năng ngoại cảm đặc biệt: biết quá khứ, dự báo tương lai, phán đúng như thần. Anh em trong cơ quan, ai có việc gì hệ trọng đều đến nhờ cô xem dùm. Họ khuyên giáo sư Phương nên đến đó xem một lần. Bán tín bán nghi, giáo sư Phương tìm đến. Nhà ngoại cảm là một người phụ nữ xanh xao, gầy yếu nằm bệt trên chiếc phản kê gần cửa sổ. Vừa nhìn thấy giáo sư Phương, cô đã nói, giọng yếu ớt: “Ghế có một người anh chết trẻ, chết trong lửa”. Giáo sư Phương giật mình đánh thót. Năm 1951, người anh ruột của ông là Vũ Sơn, trưởng ban tuyên giáo của đại đoàn 320, hy sinh trong trận đánh ở Hà Nam Ninh. Quả bom Na-pan rơi đúng hầm chỉ huy. Anh Sơn cùng một số đồng chí khác bị chết cháy. Chưa kịp trấn tĩnh, giáo sư Phương lại rụng rời khi nghe nhà ngoại cảm phán tiếp: “Ghế còn có một người em gái chết trẻ. Hài cốt vẫn còn nhưng vì ghế không tin nên không đi tìm”. Nhà ngoại cảm còn phán rất nhiều về cuộc đời, sự nghiệp, thân thế của giáo sư Phương khiến ông hoang mang: Có lẽ mình phải đi tìm manh mối thế nào đây? Tại sao có người lại biết nhiều về mình như thế?

Sau đó, về Hà Nội, ông nghe tin nhiều người tìm được mộ người thân bằng gọi hồn, thấu thị, ngoại cảm, với những tình tiết hết sức ly kỳ, huyền bí khiến ông càng hoang mang. Trong ông, chợt loé lên một niềm hy vọng mong manh: Biết đâu đấy. Nếu bằng phương pháp thần bí mà tìm được mộ em gái mình thì có gì phải câu nệ? Song ông lại chột dạ: lấy cái gì để xác nhận đó là hài cốt của em Khang sau 50 năm trôi dạt? Hàm răng trắng, không nhuộm đen ư? Thời đó, thiếu gì con gái không nhuộm răng? Đã có lần, bạn bè mách bảo ông một bộ hài cốt vô thừa nhận có đặc biệt là răng trắng. Lúc đó, ông đã đấu tranh tư tưởng: nhận hay không nhận? Nhận một bộ hài cốt mà trong lòng nghi hoặc mỗi khi tưởng niệm thì phỏng có ý nghĩa gì? Còn khám nghiệm AND ư? Quá xa vời. Song trong tình cảnh chính mình và cả khoa học thực nghiệm bị bất lực thì việc phải nhờ đến tâm linh huyền bí để giải toả nỗi đau tâm thế ám ảnh bao năm là việc nên làm. Nghĩ thế, ông bèn tìm cách tiếp cận các nhà ngoại cảm có tiếng tăm.

Chị Tuyết Nga, bạn ông, người đã nhờ nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Liên (Tứ Kỳ, Hải Dương) tìm được mộ người mẹ thân yêu bị giặc sát hại từ những năm 1960, khuyên ông nên đến nhờ anh Liên. Nghe lời, chú Quỳnh, em ruột của ông, ăn chực nằm chờ nhà anh Liên hơn một tháng trời, cuối cùng, được anh vẽ cho một tấm sơ đồ phần mộ. Nhưng sơ đồ lại ghi mộ cô Khang nằm ở huyện Khoái Châu (Hưng Yên), cách bến đò La Tiến đến mấy chục cây về phía thựợng lưu. Không thuyết phục. Đành tự an ủi rằng: chú em út chưa đủ thân thiết với cô chị nên thông tin chưa được chính xác. Cuối cùng, đích thân giáo sư Phương tìm đến cạy nhờ anh Liên. Nhưng chờ đến đỏ mắt vẫn không thấy nhà ngoại cảm mách bảo gì. Thương ông, chị Tuyết Nga bảo: “Em có người bạn là anh Nguyễn Văn Nhã, một nhà ngoại cảm nổi tiếng ở thành phố Hồ Chí Minh. Anh Nhã đã vẽ được hơn 600 ngôi mộ, tỷ lệ trúng đạt trên 60%. Để em điện thoại nhờ anh ấy xem sao”.

Sáng sớm ngày 25 tháng 7 năm 1999, anh Nhã có mặt tại Hà Nội. Trong phòng làm việc của giáo sư Trần Phương, không có hương khói gì, sau khi hỏi vợ chồng giáo sư một số thông tin về cô Khang như tên tuổi, ngày tháng năm sinh, năm mất, bến đò La Tiến thuộc xã nào? Huyện Phù Cừ thuộc tỉnh nào? Bến đò ấy có cây cầu nào không?… (Điều đó chứng tỏ nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã không biết gì về vùng đất này), anh Nhã bèn lấy một tờ giấy trắng khổ lớn và mấy cây bút màu ra vẽ. Anh vẽ một cách thư thả, lưu loát. Dưới ngòi bút của anh, thấy hiện lên con sông uốn lượn, đường to, đường nhỏ giao nhau. Rồi anh ghi chú rõ ràng, rành mạch: Từ bến đò La Tiến đi về hướng Đông Nam thấy một trường học. Đi chừng 1,6 km thì đến một ngã tư. Phía trái ngã tư có cửa hàng tạp hóa cửa màu xanh dương. Rẽ tay phải thấy một cái đình. Đi tiếp 1km hãy rẽ trái vào một con đường nhỏ. Cách đó 45m là phần mộ cô Khang. Ngôi mộ nằm trên đất cô Nhường. Đối diện với mộ là quán ông An. Mộ chôn đầu về hướng tây, cách đó 4m có một gốc cây đổ. Trên mộ có một khúc cây dài 4 tấc, một cục gạch vỡ màu nâu đỏ và 5 cây cỏ dại có hoa màu tím nhạt…


[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Sơ đồ của nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã[/b]

Vẽ chừng 10 phút thì xong. Nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã ngẩng mặt lên hỏi giáo sư Phương: “Bao giờ thì bác đi tìm mộ?”. Giáo sư Phương trả lời: “Khoảng 3 ngày nữa”. Anh Nhã bảo: “Tôi sẽ cho anh một tín hiệu để dễ tìm. Hai con bướm nhé?”. Giáo sư Phương: “Hai con bướm sợ khó tìm”. Ngẫm ngợi giây lát, anh Nhã bảo: “Vậy thì một bé gái nhé”. Nói đoạn, anh cắm cúi ghi tiếp vào tấm bản đồ: 13h30’ngày 28 tháng 7, sẽ có một bé gái chừng 11 tuổi, mặc áo hoa xanh đến gần mộ. Rồi anh dặn: “Nếu bác đến sớm thì 5 cây cỏ dại có 10 bông hoa tím. Nếu đến muộn thì chỉ còn 5 bông”. Quá đỗi ngạc nhiên, giáo sư Phương hỏi: “Anh không biết tí gì về vùng đất đó, vậy dựa vào cái gì mà anh vẽ được tấm bản đồ chi tiết này?”. Anh Nhã lắc đầu cười xoà: “Tôi cũng chẳng biết nữa. Cứ thấy trong đầu hiện lên thế nào thì vẽ ra thế ấy”. Giáo sư Phương lại hỏi: “Thế còn những cái tên: đất cô Nhường, quán ông An?”. Anh Nhã: “Tai tôi bỗng nghe thấy những âm thanh ấy. Có thể là Nhương, Nhường, An hay Am gì đấy”. Trao tấm bản đồ cho giáo sư Phương, anh Nhã vội vã ra sân bay, vào thành phố Hồ Chí Minh. Còn giáo sư Phương cứ đứng ngẩn người, chẳng hiểu ra làm sao. Song tin hay không thì vẫn cứ phải làm theo chỉ dẫn của nhà ngoại cảm. Bởi còn cách nào khác nữa đâu.


[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Kỳ 11: Ngày tìm mộ thứ nhất: Quán bà Nhờ, cô bé mặc áo xanh[/b]


[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Kỳ 11: Ngày tìm mộ thứ nhất: Quán bà Nhờ, cô bé mặc áo xanh[/b]

[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã[/b]

Đúng hẹn, ngày 28 tháng 7, cả gia đình giáo sư Trần Phương tìm đường về La Tiến, cách Hà Nội chừng 100km. Đoàn chia làm nhiều ngả, đối chiếu với bản đồ mà tìm. Có một lối hướng thẳng vào giữa làng La Tiến là trùng khớp với bản đồ. Có điều, đường từ bến đó đến nơi ghi là phần mộ lại rất ngắn, chỉ bằng 1/3 cự ly trong bản đồ. Băn khoăn, giáo sư Phương bèn điện thoại hỏi anh Nhã. Từ thành phố Hồ Chí Minh, anh Nhã bảo: “Cự ly do tôi ước lượng nên có thể không chính xác. Miễn là tìm thấy các dấu hiệu đã ghi, nhất là 4 tín hiệu nơi phần mộ”.

Cả nhà hướng mắt ra bốn phía quan sát kỹ lưỡng rồi săm soi đối chiếu với tấm bản đồ. Lần theo chỉ dẫn và các tín hiệu trên đường: trường học, đình làng, quán tạp hoá màu xanh dương, ngã tư, (tất cả đều trùng khớp với những tín hiệu anh Nhã cho trước), đoàn đến đất nhà ông Điển, một nông dân kiêm thợ nề. Hai vợ chồng ông chỉ đoàn ra dải đất phía ngoài đê, cạnh vụng Quạ (một khúc cua của con sông Luộc, nơi các xác chết thường bị cuốn vào, quạ đến ăn nhiều nên dân làng gọi là vụng Quạ), cách nhà ông chừng nửa cây số, nơi đó có 3 ngôi mộ vô thừa nhận. Mọi người sướng rơn nhưng khi đến xem xét kỹ lại không thấy một dấu hiệu nào như anh Nhã cho nên đành quay về nhà ông Điển.

Đứng trước cửa nhà, nhìn về chân đê sông Luộc, chếch về phía tây là ngôi nhà anh An. Nhà xây bằng gạch nhưng để ở chứ không bày biện bán hàng gì. Anh An cho biết: vợ anh có một gian hàng bán lòng lợn ở chợ La Tiến, sáng sớm gánh hàng ra bán song nếu ai cần mua tại nhà anh chị cũng bán. Như vậy cũng có thể tạm coi là quán hàng được.

Còn đất bà Nhường? Hỏi thăm cả làng, chẳng ai có tên như vậy. Chỉ có một bà lão tên Nhương, khoảng 70 tuổi. Bà vốn trước đó cũng là một nữ du kích, hoạt động cách mạng cùng cô Khang. Cách đó mấy năm, bà có nhắn giáo sư Trần Phương về nhận một bộ hài cốt vô thừa nhận. Bộ hài cốt có hàm răng màu trắng, giống hàm răng của cô Khang nên bà cho là hài cốt của người đồng đội mình.

Như vậy, những dấu hiệu dẫn đến ngôi mộ đã tìm thấy nhưng dấu hiệu của chính ngôi mộ thì chưa. Đành chờ đến 13h 30. Giữa trưa hè trời nắng hầm hập như đổ lửa, đoàn vẫn chia làm mấy nhóm đón lõng ở các ngả đường dẫn đến nhà ông Điển. 10 phút. Rồi 15 phút ngột thở trôi qua. Bỗng một tốp học sinh ào ào đạp xe từ cuối làng tới. Nhìn kỹ, thấy toàn con trai. Mấy phút sau, có một tốp con gái đi bộ tới. Mọi người liền giữ các em lại hỏi thăm. Các em chỉ nhà bà Nhương ở gần ngã tư, sau cái đình làng. Ba em săng sái dẫn ông Quỳnh, em ruột giáo sư Phương tới đó, còn một em đứng lại. Giáo sư Phương giật mình. Em gái ấy mặc áo màu xanh lá cây, có hai bông hoa to in trước ngực. Hỏi về những ngôi mộ vô thừa nhận, em chỉ mấy ngôi ở vườn chùa ngay cạnh chỗ đứng. Giáo sư Phương biết, đó là mộ của những người chết đói năm 1945. Em lại chỉ 3 ngôi mộ phía ngoài đê, cạnh vụng Quạ, nơi mà đoàn đã ra tìm từ sáng. Hỏi thêm em một số chuyện nữa nhưng cũng không thu thêm được thông tin quan trọng gì. Đến xế chiều, gần như mất phương hướng, giáo sư Phương lại gọi điện cho anh Nhã. Anh hỏi: “Có thấy lạch nước không? Có cái cống không?”. Anh Nhã hỏi cứ y như anh đang nhìn thấy vậy. Rồi anh bảo: “Bác hãy đi tìm ngôi nhà mà bốn mặt đều sơn màu trắng, phía trước đầy hoa đỏ”.

Cái cống lớn xây bằng gạch cạnh đất chùa, xế nhà ông Điển, chính là nơi giáo sư vừa ngồi nói chuyện với bé gái mặc áo hoa màu tím. Còn lạch nước? Hỏi ông Điển, hồi lâu ông mới sực nhớ ra: Ba mươi năm về trước, chính cái đầm sen là một vùng ruộng trũng. Bờ ruộng chạy song song với một con lạch dẫn nước qua cống cửa chùa vào ruộng mạ mà nay là đất ở của ông và mấy nhà xung quanh. Cuối những năm 60, để lấy đất bồi đắp con đê sông Luộc, người ta đã biến vùng ruộng trũng thành đầm sen bây giờ. Bờ ruộng và cái lạch nước cũng biến mất trong lòng cái đầm sen ấy.

Mọi người ngó nghiêng khắp làng để tìm ngôi nhà tứ bề quét vôi màu trắng mà chẳng thấy. Chỉ thấy nhà màu vàng hoặc xám. Bỗng ông Tân Cương, một cộng sự của giáo sư Phương chỉ vào cái quán bên đường: “Hay là cái này?”. Đó là cái quán nước nhỏ, thấp lè tè, xây bằng gạch, đủ kê một cái giường và cái chõng, trên bày bán mấy gói kẹo và mấy chai nước ngọt. Quán mới xây, cả 4 mặt đều quét vôi trắng xoá. Ông Tân Cương lý luận: “Một cái quán cũng có thể coi là nhà được lắm chứ”. Vậy còn hoa đỏ? Đảo mắt một vòng, anh Tân Cương reo khẽ. Nhìn theo hướng tay anh chỉ về phía đầm sen, mọi người sững sờ. Cả một biển hoa sen hồng thắm giữa trưa hè. Hương đưa ngào ngạt.

Chủ quán là một bà lão hom hem. Cụ cho biết tên là Mân. Nhưng đó là tên chồng, còn tên thật của bà là Nguyễn Thị Nhờ, năm nay 81 tuổi. Mọi người sục sạo tìm kiếm đến tối mịt mà chẳng thấy thêm tín hiệu gì đành quay về Hà Nội. Gọi điện cho anh Nhã, anh chấn an: “Tìm được cái quán trắng làm mốc là tốt rồi. Bác nên tìm tiếp tục. Hôm nay chưa thấy thì ngày mai lại đi. Chỉnh mộ là cả một hành trình đầy vất vả, không thể một lần mà trúng ngay được”. Rồi anh chỉ dẫn tiếp: “8h sáng mai bác phải có mặt ở cái quán quét vôi màu trắng ấy. Bác hoặc con bác hãy thắp 20 nén hương ở lối đi bên cạnh. Khoảng 8h30’, có một con chó vàng nâu đứng cách đó chừng 10m. Nó nhìn bác một lát rồi đi. Thỉnh thoảng, nó ngoái đầu lại xem bác có đi theo nó không. Bác cứ đi theo và giữ khoảng cách. Đi chừng hơn 100m, con chó sẽ dừng lại, hít đất rồi bới. Bác hãy nhớ lấy chỗ đó, quan sát kỹ, tìm những dấu hiệu trên phần mộ như đã ghi trong bản đồ”. Ngừng một lát, anh Nhã dặn tiếp: “Nếu không thấy con chó xuất hiện thì chờ đến khoảng 9h, tìm kiếm quanh vùng sẽ thấy một con chó vàng nằm bệt như ốm. Đánh dấu lấy chỗ ấy mà đào. Đào thấy thì con chó sẽ hết ốm. Khi nào thấy tín hiệu thì điện thoại lại, tôi sẽ chỉ dẫn tiếp”.

[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Ngày thứ 2 tìm mộ: Con chó nằm bẹp như ốm – Quả trứng trên đầu đũa[/b]

Sáng sớm hôm sau, đoàn lại lục tục quay trở lại La Tiến. Việc đầu tiên là chia ra làm nhiều tốp, đứng ở các ngả đường xem có con chó vàng nâu nào tiến về phía quán nước quét vôi trắng không? Chờ đến gần 9h vẫn chưa thấy tín hiệu gì. Đành chuyển sang phương án 2: tìm con chó vàng nằm bệt như ốm. Mọi người sục sạo vào từng nhà quanh vùng. ở đây, nhà nào cũng nuôi chó vàng, thấy khách lạ, chúng nhảy sồ ra sủa inh ỏi, chẳng thấy con nào nằm bệt một chỗ. Cô Nam (em ruột cô Khang) mấy lần vào ra nhà cụ Nhờ, ngó ngó nghiêng nghiêng khắp xó xỉnh, bỗng phát hiện thấy phía sâu bên trong gian nhà phụ, dưới gầm giường, có một con chó vàng nằm ệp. Mọi người lần lượt vào xem, nó vẫn nằm im thít như cục bông, chẳng gầm gừ hay sủa. Hỏi cụ Nhờ, cụ chép miệng bảo: nó chửa, chê cơm mấy hôm nay rồi. GS Phương liền điện thoại cho nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã. Anh chỉ dẫn: Tìm kiếm trong vòng bán kính 10 m xem có những dấu hiệu trên phần mộ (cách mộ 4m có một gốc cây đổ, trên mộ có khúc cây dài 4 tấc, một cục gạch vỡ màu nâu đỏ và 5 cây cỏ dại có hoa màu tím nhạt) không?

Từ chỗ con chó nằm ệp, GS Phương kẻ một vòng tròn có bán kính 10 m. Phần lớn vòng tròn bao lấy sân gạch và nhà của cụ Nhờ, chỉ một phần nhỏ lấn sang khoảnh vườn hẹp trước tường hoa nhà ông Điển. Khoảnh vườn này, hôm trước đoàn đã đi qua mà không ai để ý đến mấy vạt rau lang. Cả nhà dán mắt xuống đất tìm. Anh Tân Cương bỗng phát hiện ra một gốc cây đổ bị vùi lấp dưới lớp dây lang, gốc cây to bằng bắp chân, dài hơn gang tay. Trên thân lơ thơ mấy cái chồi cằn cỗi. Ông Điển bảo đó là cây nhót ông chặt năm ngoái nhưng chưa kịp đánh gốc. Tiếp tục tìm kiếm, thấy cách gốc cây nhót về hướng đông chừng 2m, có nửa viên gạch vỡ màu nâu đỏ nằm cạnh một cành cây khô to bằng cổ tay, dài nửa mét. Nhìn tiếp về hướng đông chừng 3m nữa, dưới tán cây cam thấp lùn, cả đoàn reo lên khi trước mắt hiện lên cả một dãy hoa màu tím nhạt bung lên khỏi đám rau lang. GS Phương tỉ mẩn ngồi dếm được đúng 5 gốc, mỗi gốc nở hai bông hoa to và dài bằng ngón tay.

Sau khi rà soát lại kỹ càng, GS Phương lại điện cho anh Nhã. Anh bảo: “Từ gốc cây đổ đến dãy hoa tím, vẽ một hình tam giác. Bác hãy đứng vào giữa rồi đánh dấu lại. Lấy một chiếc đũa cắm xuống chỗ đó. Chính tay bác hoặc người khác nhưng phải cùng máu mủ với cô Khang, đặt một quả trứng lên đỉnh chiếc đũa. Nếu quả trứng nằm vững trên đầu đũa là đúng. Nếu không nằm im thì cắm chiếc đũa lùi ra nửa mét”.

Bà Điển lập cập chạy vào bếp rút từ ống đũa ra một chiếc rồi chạy ra chuồng gà nhặt trong ổ một quả trứng vừa mới đẻ đưa cho GS Phương. Ngồi ngắm nghía chiếc đũa tre khẳng khiu, tay vân vê quả trứng gà, GS Phương chột dạ: Tay Nhã đánh đố mình đây. Song lại tự chấn an: vấn đề là ở chỗ phải ngắm cho thật cân và không được xúc động. Hít một hơi thật sâu, GS Phương rón rén đặt quả trứng lên đầu chiếc đũa. Gần trăm con mắt dán vào quả trứng gà như nín thở. Bịch! Quả trứng rơi xuống đất. Nhặt lên, khẽ khàng đặt lại. Lần 2, lần 3… Đặt nằm rồi đặt đứng. Quả trứng vẫn lăn bo lo xuống đất. GS Phương ngồi bệt xuống đất, thở hắt ra. “Chỉ tại cái đũa chết tiệt. Tiết diện quá nhỏ mà lại không phẳng thì tài thánh cũng chẳng đặt được quả trứng tròn cho cân”.

Nghĩ vậy nhưng GS đứng dậy, lùi lại nửa mét, mặt vẫn hướng vào tường hoa. Cắm chiếc đũa cho thật thẳng rồi nhẹ nhàng đặt quả trứng lên. Mọi người vội chìa tay ra hứng sợ trứng rơi vỡ. Ô kìa! Kỳ lạ quá! Quả trứng nằm im trên đầu đũa tựa như có chất keo kết dính. [b style="margin: 0px; padding: 0px;"](Xem ảnh)[/b]


[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Từ phải qua trái: GS PHương, vợ chồng cô Năm (em ruột cô Khang),[/b]
[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]anh Tân Cương[/b]

Mặc dầu không tin vào sự can thiệp của cô Khang (vì làm gì có linh hồn mà can thiệp? Mà nếu có thì linh hồn đâu phải là lực hút vật chất – GS Phương nghĩ thế)nhưng GS vẫn thở phào nhẹ nhõm vì nếu không làm được điều này sẽ không thể đi tiếp bước sau. Lại gọi điện cho anh Nhã cầu cứu. Anh bảo: “Lấy quả trứng làm tâm, vẽ một hình chữ nhật dài 2 mét, rộng 1,2m rồi đào sâu xuống 1,5m cho đến lớp cát đen, hài cốt sẽ ở đó”.

Mặt trời đã lên đến đỉnh đầu. Vừa đói, vừa mệt, GS Phương quyết định tạm nghỉ, ra bến đò La Tiến ăn cơm. Trời đang nắng gắt bỗng đâu mây đen ùn ùn kéo tới, gió ào ào thổi cuốn bụi mịt mù. Mưa như trút nước. Mưa kéo dài lê thê. Chừng hơn một tiếng mới tạnh. Moị người vội vã kéo về nhà ông Điển. Anh Tân Cương bảo: “Phen này phải đền quả trứng của bà Điển là cái chắc”. Thế nhưng khi bước ra vườn, tất cả đều sững sờ khi thấy quả trứng vẫn nằm chon von trên đầu đũa bé xíu. Chẳng nhẽ khi mưa, lúc nào cũng có 2 giọt nước rơi cân bằng xuống 2 đầu quả trứng à? Lại còn gió to nữa chứ? Bụi tre bờ sông gió vặn còn nghiêng ngả cơ mà? Có điều gì huyền bí đây?

GS Phương từ từ gỡ quả trứng ra khỏi chiếc đũa để cho tốp thợ đào đất. Hai bàn tay ông cảm nhận rõ một sức hút nhẹ như có bàn tay vô hình cố giữ quả trứng. Hai tốp thợ thay nhau đào. Đầu tiên là lớp đất màu nâu. Sâu chừng 1,2m thì đến lớp bùn đen pha cát. GS Phương nhắc nhở mọi người rà soát từng xẻng cát xem có lẫn xương cốt không? Nhưng đào m•i đến độ sâu 1,5 m vẫn không thấy gì. Anh Nhã hướng dẫn qua điện thoại: phát triển về hướng Nam, đào sâu thêm 4 cm nữa. Hố đào lập tức được mở rộng thêm nửa mét ra phía bờ ao. Chiều sâu thì đến 2,8 m mà vẫn không có tín hiệu gì. Trời sập tối. Mọi người buộc phải ngừng tay. Nỗi buồn xen lẫn thất vọng hiển hiện rõ trên khuôn mặt già nua của GS Phương. Tuy vậy, ông vẫn quyết định ngày mai đào tiếp.


[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Kỳ 12: Ngày thứ 3 tìm mộ: Soát đống cát đen, thu dọn “chiến trường”[/b]
avatar
TLT

Tổng số bài gửi : 2017
Join date : 24/10/2010
Age : 49
Đến từ : Tổ 11 - Ph Nghĩa Chánh - TP Quảng Ngãi

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Bài gửi  TLT on Fri Jun 28, 2013 10:07 am

[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Tìm em theo sơ đồ của nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã[/b]

Giáo sư Trần Phương, nguyên Phó thủ tướng chính phủ, hiệu trưởng trường Đại học kinh doanh và công nghệ Hà Nội, có một người em gái, sinh năm 1929, tên là Vũ Thị Kính. Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, ngay từ năm 16 tuổi, cô Kính đã đi tham gia kháng chiến, trở thành một nữ giao liên gan dạ với bí danh Trần Thị Khang. Năm 1950, cô trở thành Huyện uỷ viên Đảng bộ Phù Cừ, Bí thư Hội phụ nữ cứu quốc huyện, người tổ chức và chỉ huy đội nữ du kích Hoàng Ngân nổi tiếng. Tháng 6 năm 1950, giặc bắt được cô, đưa về bốt La Tiến, một đồn binh lớn án ngữ phía nam tỉnh Hưng Yên, phía bắc tỉnh Thái Bình và phía tây tỉnh Hải Dương. Tại đây, giặc đã dùng mọi cực hình tra tấn dã man nhất (chuyện sẽ kể ở phần sau – PV) nhưng người nữ du kích kiên trung ấy vẫn không hé nửa lời. Tức giận, giặc đã cắt cổ cô rồi vứt xác xuống sông Luộc. Sau cái chết anh hùng ấy của cô, đội nữ du kích Hoàng Ngân đã phát động “Tuần lễ giết giặc, trả thù cho chị Khang”.


[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Cô Trần Thị Khang[/b]

Mặc dầu Huyện uỷ và đội nữ du kích Hoàng Ngân đã đi khắp các bến đục dòng trong những mong tìm xác cô mà không thấy. Thương con, người mẹ già khóc mờ cả mắt. Suốt mấy chục năm ròng, thỉnh thoảng, mẹ lại ngước đôi mắt đục mờ như cùi nhãn khô về phía giáo sư Phương, hỏi bằng cái giọng tủi hờn, xót xa: “Có tìm thấy xác em không hả con?”. “Bao giờ hết chiến tranh, con sẽ đi tìm. Chắc là thấy mẹ ạ!”. Miệng thì trả lời mẹ thế mà họng thì thấy nghẹn đắng. Cả một dòng sông Luộc mang mang, cuồn cuộn sóng trôi ra biển cả, biết tìm em nơi nào?

Mẹ mất. Tin tức về phần mộ em vẫn biền biệt phương trời. Giáo sư Phương lúc nào cũng sống trong cảm giác day dứt, đau xót, không yên. Năm 1989, khi đó, giáo sư Phương đang làm Viện trưởng viện nghiên cứu chiến lược phát triển, có xuống công tác tại Sở kinh tế đối ngoại (cũ) Quảng Ninh. Nghe anh em dưới đó đồn rằng, cách Bãi Cháy, về phía Hà Nội 20 km, có một cô công nhân, trước vốn bị tan nạn lao động, nay có khả năng ngoại cảm đặc biệt: biết quá khứ, dự báo tương lai, phán đúng như thần. Anh em trong cơ quan, ai có việc gì hệ trọng đều đến nhờ cô xem dùm. Họ khuyên giáo sư Phương nên đến đó xem một lần. Bán tín bán nghi, giáo sư Phương tìm đến. Nhà ngoại cảm là một người phụ nữ xanh xao, gầy yếu nằm bệt trên chiếc phản kê gần cửa sổ. Vừa nhìn thấy giáo sư Phương, cô đã nói, giọng yếu ớt: “Ghế có một người anh chết trẻ, chết trong lửa”. Giáo sư Phương giật mình đánh thót. Năm 1951, người anh ruột của ông là Vũ Sơn, trưởng ban tuyên giáo của đại đoàn 320, hy sinh trong trận đánh ở Hà Nam Ninh. Quả bom Na-pan rơi đúng hầm chỉ huy. Anh Sơn cùng một số đồng chí khác bị chết cháy. Chưa kịp trấn tĩnh, giáo sư Phương lại rụng rời khi nghe nhà ngoại cảm phán tiếp: “Ghế còn có một người em gái chết trẻ. Hài cốt vẫn còn nhưng vì ghế không tin nên không đi tìm”. Nhà ngoại cảm còn phán rất nhiều về cuộc đời, sự nghiệp, thân thế của giáo sư Phương khiến ông hoang mang: Có lẽ mình phải đi tìm manh mối thế nào đây? Tại sao có người lại biết nhiều về mình như thế?

Sau đó, về Hà Nội, ông nghe tin nhiều người tìm được mộ người thân bằng gọi hồn, thấu thị, ngoại cảm, với những tình tiết hết sức ly kỳ, huyền bí khiến ông càng hoang mang. Trong ông, chợt loé lên một niềm hy vọng mong manh: Biết đâu đấy. Nếu bằng phương pháp thần bí mà tìm được mộ em gái mình thì có gì phải câu nệ? Song ông lại chột dạ: lấy cái gì để xác nhận đó là hài cốt của em Khang sau 50 năm trôi dạt? Hàm răng trắng, không nhuộm đen ư? Thời đó, thiếu gì con gái không nhuộm răng? Đã có lần, bạn bè mách bảo ông một bộ hài cốt vô thừa nhận có đặc biệt là răng trắng. Lúc đó, ông đã đấu tranh tư tưởng: nhận hay không nhận? Nhận một bộ hài cốt mà trong lòng nghi hoặc mỗi khi tưởng niệm thì phỏng có ý nghĩa gì? Còn khám nghiệm AND ư? Quá xa vời. Song trong tình cảnh chính mình và cả khoa học thực nghiệm bị bất lực thì việc phải nhờ đến tâm linh huyền bí để giải toả nỗi đau tâm thế ám ảnh bao năm là việc nên làm. Nghĩ thế, ông bèn tìm cách tiếp cận các nhà ngoại cảm có tiếng tăm.

Chị Tuyết Nga, bạn ông, người đã nhờ nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Liên (Tứ Kỳ, Hải Dương) tìm được mộ người mẹ thân yêu bị giặc sát hại từ những năm 1960, khuyên ông nên đến nhờ anh Liên. Nghe lời, chú Quỳnh, em ruột của ông, ăn chực nằm chờ nhà anh Liên hơn một tháng trời, cuối cùng, được anh vẽ cho một tấm sơ đồ phần mộ. Nhưng sơ đồ lại ghi mộ cô Khang nằm ở huyện Khoái Châu (Hưng Yên), cách bến đò La Tiến đến mấy chục cây về phía thựợng lưu. Không thuyết phục. Đành tự an ủi rằng: chú em út chưa đủ thân thiết với cô chị nên thông tin chưa được chính xác. Cuối cùng, đích thân giáo sư Phương tìm đến cạy nhờ anh Liên. Nhưng chờ đến đỏ mắt vẫn không thấy nhà ngoại cảm mách bảo gì. Thương ông, chị Tuyết Nga bảo: “Em có người bạn là anh Nguyễn Văn Nhã, một nhà ngoại cảm nổi tiếng ở thành phố Hồ Chí Minh. Anh Nhã đã vẽ được hơn 600 ngôi mộ, tỷ lệ trúng đạt trên 60%. Để em điện thoại nhờ anh ấy xem sao”.

Sáng sớm ngày 25 tháng 7 năm 1999, anh Nhã có mặt tại Hà Nội. Trong phòng làm việc của giáo sư Trần Phương, không có hương khói gì, sau khi hỏi vợ chồng giáo sư một số thông tin về cô Khang như tên tuổi, ngày tháng năm sinh, năm mất, bến đò La Tiến thuộc xã nào? Huyện Phù Cừ thuộc tỉnh nào? Bến đò ấy có cây cầu nào không?… (Điều đó chứng tỏ nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã không biết gì về vùng đất này), anh Nhã bèn lấy một tờ giấy trắng khổ lớn và mấy cây bút màu ra vẽ. Anh vẽ một cách thư thả, lưu loát. Dưới ngòi bút của anh, thấy hiện lên con sông uốn lượn, đường to, đường nhỏ giao nhau. Rồi anh ghi chú rõ ràng, rành mạch: Từ bến đò La Tiến đi về hướng Đông Nam thấy một trường học. Đi chừng 1,6 km thì đến một ngã tư. Phía trái ngã tư có cửa hàng tạp hóa cửa màu xanh dương. Rẽ tay phải thấy một cái đình. Đi tiếp 1km hãy rẽ trái vào một con đường nhỏ. Cách đó 45m là phần mộ cô Khang. Ngôi mộ nằm trên đất cô Nhường. Đối diện với mộ là quán ông An. Mộ chôn đầu về hướng tây, cách đó 4m có một gốc cây đổ. Trên mộ có một khúc cây dài 4 tấc, một cục gạch vỡ màu nâu đỏ và 5 cây cỏ dại có hoa màu tím nhạt…


[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Sơ đồ của nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã[/b]

Vẽ chừng 10 phút thì xong. Nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã ngẩng mặt lên hỏi giáo sư Phương: “Bao giờ thì bác đi tìm mộ?”. Giáo sư Phương trả lời: “Khoảng 3 ngày nữa”. Anh Nhã bảo: “Tôi sẽ cho anh một tín hiệu để dễ tìm. Hai con bướm nhé?”. Giáo sư Phương: “Hai con bướm sợ khó tìm”. Ngẫm ngợi giây lát, anh Nhã bảo: “Vậy thì một bé gái nhé”. Nói đoạn, anh cắm cúi ghi tiếp vào tấm bản đồ: 13h30’ngày 28 tháng 7, sẽ có một bé gái chừng 11 tuổi, mặc áo hoa xanh đến gần mộ. Rồi anh dặn: “Nếu bác đến sớm thì 5 cây cỏ dại có 10 bông hoa tím. Nếu đến muộn thì chỉ còn 5 bông”. Quá đỗi ngạc nhiên, giáo sư Phương hỏi: “Anh không biết tí gì về vùng đất đó, vậy dựa vào cái gì mà anh vẽ được tấm bản đồ chi tiết này?”. Anh Nhã lắc đầu cười xoà: “Tôi cũng chẳng biết nữa. Cứ thấy trong đầu hiện lên thế nào thì vẽ ra thế ấy”. Giáo sư Phương lại hỏi: “Thế còn những cái tên: đất cô Nhường, quán ông An?”. Anh Nhã: “Tai tôi bỗng nghe thấy những âm thanh ấy. Có thể là Nhương, Nhường, An hay Am gì đấy”. Trao tấm bản đồ cho giáo sư Phương, anh Nhã vội vã ra sân bay, vào thành phố Hồ Chí Minh. Còn giáo sư Phương cứ đứng ngẩn người, chẳng hiểu ra làm sao. Song tin hay không thì vẫn cứ phải làm theo chỉ dẫn của nhà ngoại cảm. Bởi còn cách nào khác nữa đâu.


[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Kỳ 11: Ngày tìm mộ thứ nhất: Quán bà Nhờ, cô bé mặc áo xanh[/b]


[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Kỳ 11: Ngày tìm mộ thứ nhất: Quán bà Nhờ, cô bé mặc áo xanh[/b]

[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã[/b]

Đúng hẹn, ngày 28 tháng 7, cả gia đình giáo sư Trần Phương tìm đường về La Tiến, cách Hà Nội chừng 100km. Đoàn chia làm nhiều ngả, đối chiếu với bản đồ mà tìm. Có một lối hướng thẳng vào giữa làng La Tiến là trùng khớp với bản đồ. Có điều, đường từ bến đó đến nơi ghi là phần mộ lại rất ngắn, chỉ bằng 1/3 cự ly trong bản đồ. Băn khoăn, giáo sư Phương bèn điện thoại hỏi anh Nhã. Từ thành phố Hồ Chí Minh, anh Nhã bảo: “Cự ly do tôi ước lượng nên có thể không chính xác. Miễn là tìm thấy các dấu hiệu đã ghi, nhất là 4 tín hiệu nơi phần mộ”.

Cả nhà hướng mắt ra bốn phía quan sát kỹ lưỡng rồi săm soi đối chiếu với tấm bản đồ. Lần theo chỉ dẫn và các tín hiệu trên đường: trường học, đình làng, quán tạp hoá màu xanh dương, ngã tư, (tất cả đều trùng khớp với những tín hiệu anh Nhã cho trước), đoàn đến đất nhà ông Điển, một nông dân kiêm thợ nề. Hai vợ chồng ông chỉ đoàn ra dải đất phía ngoài đê, cạnh vụng Quạ (một khúc cua của con sông Luộc, nơi các xác chết thường bị cuốn vào, quạ đến ăn nhiều nên dân làng gọi là vụng Quạ), cách nhà ông chừng nửa cây số, nơi đó có 3 ngôi mộ vô thừa nhận. Mọi người sướng rơn nhưng khi đến xem xét kỹ lại không thấy một dấu hiệu nào như anh Nhã cho nên đành quay về nhà ông Điển.

Đứng trước cửa nhà, nhìn về chân đê sông Luộc, chếch về phía tây là ngôi nhà anh An. Nhà xây bằng gạch nhưng để ở chứ không bày biện bán hàng gì. Anh An cho biết: vợ anh có một gian hàng bán lòng lợn ở chợ La Tiến, sáng sớm gánh hàng ra bán song nếu ai cần mua tại nhà anh chị cũng bán. Như vậy cũng có thể tạm coi là quán hàng được.

Còn đất bà Nhường? Hỏi thăm cả làng, chẳng ai có tên như vậy. Chỉ có một bà lão tên Nhương, khoảng 70 tuổi. Bà vốn trước đó cũng là một nữ du kích, hoạt động cách mạng cùng cô Khang. Cách đó mấy năm, bà có nhắn giáo sư Trần Phương về nhận một bộ hài cốt vô thừa nhận. Bộ hài cốt có hàm răng màu trắng, giống hàm răng của cô Khang nên bà cho là hài cốt của người đồng đội mình.

Như vậy, những dấu hiệu dẫn đến ngôi mộ đã tìm thấy nhưng dấu hiệu của chính ngôi mộ thì chưa. Đành chờ đến 13h 30. Giữa trưa hè trời nắng hầm hập như đổ lửa, đoàn vẫn chia làm mấy nhóm đón lõng ở các ngả đường dẫn đến nhà ông Điển. 10 phút. Rồi 15 phút ngột thở trôi qua. Bỗng một tốp học sinh ào ào đạp xe từ cuối làng tới. Nhìn kỹ, thấy toàn con trai. Mấy phút sau, có một tốp con gái đi bộ tới. Mọi người liền giữ các em lại hỏi thăm. Các em chỉ nhà bà Nhương ở gần ngã tư, sau cái đình làng. Ba em săng sái dẫn ông Quỳnh, em ruột giáo sư Phương tới đó, còn một em đứng lại. Giáo sư Phương giật mình. Em gái ấy mặc áo màu xanh lá cây, có hai bông hoa to in trước ngực. Hỏi về những ngôi mộ vô thừa nhận, em chỉ mấy ngôi ở vườn chùa ngay cạnh chỗ đứng. Giáo sư Phương biết, đó là mộ của những người chết đói năm 1945. Em lại chỉ 3 ngôi mộ phía ngoài đê, cạnh vụng Quạ, nơi mà đoàn đã ra tìm từ sáng. Hỏi thêm em một số chuyện nữa nhưng cũng không thu thêm được thông tin quan trọng gì. Đến xế chiều, gần như mất phương hướng, giáo sư Phương lại gọi điện cho anh Nhã. Anh hỏi: “Có thấy lạch nước không? Có cái cống không?”. Anh Nhã hỏi cứ y như anh đang nhìn thấy vậy. Rồi anh bảo: “Bác hãy đi tìm ngôi nhà mà bốn mặt đều sơn màu trắng, phía trước đầy hoa đỏ”.

Cái cống lớn xây bằng gạch cạnh đất chùa, xế nhà ông Điển, chính là nơi giáo sư vừa ngồi nói chuyện với bé gái mặc áo hoa màu tím. Còn lạch nước? Hỏi ông Điển, hồi lâu ông mới sực nhớ ra: Ba mươi năm về trước, chính cái đầm sen là một vùng ruộng trũng. Bờ ruộng chạy song song với một con lạch dẫn nước qua cống cửa chùa vào ruộng mạ mà nay là đất ở của ông và mấy nhà xung quanh. Cuối những năm 60, để lấy đất bồi đắp con đê sông Luộc, người ta đã biến vùng ruộng trũng thành đầm sen bây giờ. Bờ ruộng và cái lạch nước cũng biến mất trong lòng cái đầm sen ấy.

Mọi người ngó nghiêng khắp làng để tìm ngôi nhà tứ bề quét vôi màu trắng mà chẳng thấy. Chỉ thấy nhà màu vàng hoặc xám. Bỗng ông Tân Cương, một cộng sự của giáo sư Phương chỉ vào cái quán bên đường: “Hay là cái này?”. Đó là cái quán nước nhỏ, thấp lè tè, xây bằng gạch, đủ kê một cái giường và cái chõng, trên bày bán mấy gói kẹo và mấy chai nước ngọt. Quán mới xây, cả 4 mặt đều quét vôi trắng xoá. Ông Tân Cương lý luận: “Một cái quán cũng có thể coi là nhà được lắm chứ”. Vậy còn hoa đỏ? Đảo mắt một vòng, anh Tân Cương reo khẽ. Nhìn theo hướng tay anh chỉ về phía đầm sen, mọi người sững sờ. Cả một biển hoa sen hồng thắm giữa trưa hè. Hương đưa ngào ngạt.

Chủ quán là một bà lão hom hem. Cụ cho biết tên là Mân. Nhưng đó là tên chồng, còn tên thật của bà là Nguyễn Thị Nhờ, năm nay 81 tuổi. Mọi người sục sạo tìm kiếm đến tối mịt mà chẳng thấy thêm tín hiệu gì đành quay về Hà Nội. Gọi điện cho anh Nhã, anh chấn an: “Tìm được cái quán trắng làm mốc là tốt rồi. Bác nên tìm tiếp tục. Hôm nay chưa thấy thì ngày mai lại đi. Chỉnh mộ là cả một hành trình đầy vất vả, không thể một lần mà trúng ngay được”. Rồi anh chỉ dẫn tiếp: “8h sáng mai bác phải có mặt ở cái quán quét vôi màu trắng ấy. Bác hoặc con bác hãy thắp 20 nén hương ở lối đi bên cạnh. Khoảng 8h30’, có một con chó vàng nâu đứng cách đó chừng 10m. Nó nhìn bác một lát rồi đi. Thỉnh thoảng, nó ngoái đầu lại xem bác có đi theo nó không. Bác cứ đi theo và giữ khoảng cách. Đi chừng hơn 100m, con chó sẽ dừng lại, hít đất rồi bới. Bác hãy nhớ lấy chỗ đó, quan sát kỹ, tìm những dấu hiệu trên phần mộ như đã ghi trong bản đồ”. Ngừng một lát, anh Nhã dặn tiếp: “Nếu không thấy con chó xuất hiện thì chờ đến khoảng 9h, tìm kiếm quanh vùng sẽ thấy một con chó vàng nằm bệt như ốm. Đánh dấu lấy chỗ ấy mà đào. Đào thấy thì con chó sẽ hết ốm. Khi nào thấy tín hiệu thì điện thoại lại, tôi sẽ chỉ dẫn tiếp”.

[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Ngày thứ 2 tìm mộ: Con chó nằm bẹp như ốm – Quả trứng trên đầu đũa[/b]

Sáng sớm hôm sau, đoàn lại lục tục quay trở lại La Tiến. Việc đầu tiên là chia ra làm nhiều tốp, đứng ở các ngả đường xem có con chó vàng nâu nào tiến về phía quán nước quét vôi trắng không? Chờ đến gần 9h vẫn chưa thấy tín hiệu gì. Đành chuyển sang phương án 2: tìm con chó vàng nằm bệt như ốm. Mọi người sục sạo vào từng nhà quanh vùng. ở đây, nhà nào cũng nuôi chó vàng, thấy khách lạ, chúng nhảy sồ ra sủa inh ỏi, chẳng thấy con nào nằm bệt một chỗ. Cô Nam (em ruột cô Khang) mấy lần vào ra nhà cụ Nhờ, ngó ngó nghiêng nghiêng khắp xó xỉnh, bỗng phát hiện thấy phía sâu bên trong gian nhà phụ, dưới gầm giường, có một con chó vàng nằm ệp. Mọi người lần lượt vào xem, nó vẫn nằm im thít như cục bông, chẳng gầm gừ hay sủa. Hỏi cụ Nhờ, cụ chép miệng bảo: nó chửa, chê cơm mấy hôm nay rồi. GS Phương liền điện thoại cho nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã. Anh chỉ dẫn: Tìm kiếm trong vòng bán kính 10 m xem có những dấu hiệu trên phần mộ (cách mộ 4m có một gốc cây đổ, trên mộ có khúc cây dài 4 tấc, một cục gạch vỡ màu nâu đỏ và 5 cây cỏ dại có hoa màu tím nhạt) không?

Từ chỗ con chó nằm ệp, GS Phương kẻ một vòng tròn có bán kính 10 m. Phần lớn vòng tròn bao lấy sân gạch và nhà của cụ Nhờ, chỉ một phần nhỏ lấn sang khoảnh vườn hẹp trước tường hoa nhà ông Điển. Khoảnh vườn này, hôm trước đoàn đã đi qua mà không ai để ý đến mấy vạt rau lang. Cả nhà dán mắt xuống đất tìm. Anh Tân Cương bỗng phát hiện ra một gốc cây đổ bị vùi lấp dưới lớp dây lang, gốc cây to bằng bắp chân, dài hơn gang tay. Trên thân lơ thơ mấy cái chồi cằn cỗi. Ông Điển bảo đó là cây nhót ông chặt năm ngoái nhưng chưa kịp đánh gốc. Tiếp tục tìm kiếm, thấy cách gốc cây nhót về hướng đông chừng 2m, có nửa viên gạch vỡ màu nâu đỏ nằm cạnh một cành cây khô to bằng cổ tay, dài nửa mét. Nhìn tiếp về hướng đông chừng 3m nữa, dưới tán cây cam thấp lùn, cả đoàn reo lên khi trước mắt hiện lên cả một dãy hoa màu tím nhạt bung lên khỏi đám rau lang. GS Phương tỉ mẩn ngồi dếm được đúng 5 gốc, mỗi gốc nở hai bông hoa to và dài bằng ngón tay.

Sau khi rà soát lại kỹ càng, GS Phương lại điện cho anh Nhã. Anh bảo: “Từ gốc cây đổ đến dãy hoa tím, vẽ một hình tam giác. Bác hãy đứng vào giữa rồi đánh dấu lại. Lấy một chiếc đũa cắm xuống chỗ đó. Chính tay bác hoặc người khác nhưng phải cùng máu mủ với cô Khang, đặt một quả trứng lên đỉnh chiếc đũa. Nếu quả trứng nằm vững trên đầu đũa là đúng. Nếu không nằm im thì cắm chiếc đũa lùi ra nửa mét”.

Bà Điển lập cập chạy vào bếp rút từ ống đũa ra một chiếc rồi chạy ra chuồng gà nhặt trong ổ một quả trứng vừa mới đẻ đưa cho GS Phương. Ngồi ngắm nghía chiếc đũa tre khẳng khiu, tay vân vê quả trứng gà, GS Phương chột dạ: Tay Nhã đánh đố mình đây. Song lại tự chấn an: vấn đề là ở chỗ phải ngắm cho thật cân và không được xúc động. Hít một hơi thật sâu, GS Phương rón rén đặt quả trứng lên đầu chiếc đũa. Gần trăm con mắt dán vào quả trứng gà như nín thở. Bịch! Quả trứng rơi xuống đất. Nhặt lên, khẽ khàng đặt lại. Lần 2, lần 3… Đặt nằm rồi đặt đứng. Quả trứng vẫn lăn bo lo xuống đất. GS Phương ngồi bệt xuống đất, thở hắt ra. “Chỉ tại cái đũa chết tiệt. Tiết diện quá nhỏ mà lại không phẳng thì tài thánh cũng chẳng đặt được quả trứng tròn cho cân”.

Nghĩ vậy nhưng GS đứng dậy, lùi lại nửa mét, mặt vẫn hướng vào tường hoa. Cắm chiếc đũa cho thật thẳng rồi nhẹ nhàng đặt quả trứng lên. Mọi người vội chìa tay ra hứng sợ trứng rơi vỡ. Ô kìa! Kỳ lạ quá! Quả trứng nằm im trên đầu đũa tựa như có chất keo kết dính. [b style="margin: 0px; padding: 0px;"](Xem ảnh)[/b]


[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Từ phải qua trái: GS PHương, vợ chồng cô Năm (em ruột cô Khang),[/b]
[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]anh Tân Cương[/b]

Mặc dầu không tin vào sự can thiệp của cô Khang (vì làm gì có linh hồn mà can thiệp? Mà nếu có thì linh hồn đâu phải là lực hút vật chất – GS Phương nghĩ thế)nhưng GS vẫn thở phào nhẹ nhõm vì nếu không làm được điều này sẽ không thể đi tiếp bước sau. Lại gọi điện cho anh Nhã cầu cứu. Anh bảo: “Lấy quả trứng làm tâm, vẽ một hình chữ nhật dài 2 mét, rộng 1,2m rồi đào sâu xuống 1,5m cho đến lớp cát đen, hài cốt sẽ ở đó”.

Mặt trời đã lên đến đỉnh đầu. Vừa đói, vừa mệt, GS Phương quyết định tạm nghỉ, ra bến đò La Tiến ăn cơm. Trời đang nắng gắt bỗng đâu mây đen ùn ùn kéo tới, gió ào ào thổi cuốn bụi mịt mù. Mưa như trút nước. Mưa kéo dài lê thê. Chừng hơn một tiếng mới tạnh. Moị người vội vã kéo về nhà ông Điển. Anh Tân Cương bảo: “Phen này phải đền quả trứng của bà Điển là cái chắc”. Thế nhưng khi bước ra vườn, tất cả đều sững sờ khi thấy quả trứng vẫn nằm chon von trên đầu đũa bé xíu. Chẳng nhẽ khi mưa, lúc nào cũng có 2 giọt nước rơi cân bằng xuống 2 đầu quả trứng à? Lại còn gió to nữa chứ? Bụi tre bờ sông gió vặn còn nghiêng ngả cơ mà? Có điều gì huyền bí đây?

GS Phương từ từ gỡ quả trứng ra khỏi chiếc đũa để cho tốp thợ đào đất. Hai bàn tay ông cảm nhận rõ một sức hút nhẹ như có bàn tay vô hình cố giữ quả trứng. Hai tốp thợ thay nhau đào. Đầu tiên là lớp đất màu nâu. Sâu chừng 1,2m thì đến lớp bùn đen pha cát. GS Phương nhắc nhở mọi người rà soát từng xẻng cát xem có lẫn xương cốt không? Nhưng đào m•i đến độ sâu 1,5 m vẫn không thấy gì. Anh Nhã hướng dẫn qua điện thoại: phát triển về hướng Nam, đào sâu thêm 4 cm nữa. Hố đào lập tức được mở rộng thêm nửa mét ra phía bờ ao. Chiều sâu thì đến 2,8 m mà vẫn không có tín hiệu gì. Trời sập tối. Mọi người buộc phải ngừng tay. Nỗi buồn xen lẫn thất vọng hiển hiện rõ trên khuôn mặt già nua của GS Phương. Tuy vậy, ông vẫn quyết định ngày mai đào tiếp.


[b style="margin: 0px; padding: 0px;"]Kỳ 12: Ngày thứ 3 tìm mộ: Soát đống cát đen, thu dọn “chiến trường”[/b]
avatar
TLT

Tổng số bài gửi : 2017
Join date : 24/10/2010
Age : 49
Đến từ : Tổ 11 - Ph Nghĩa Chánh - TP Quảng Ngãi

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Bài gửi  Sponsored content


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết