Thống Kê
Hiện có 3 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 3 Khách viếng thăm

Không

[ View the whole list ]


Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 60 người, vào ngày Sat Jun 02, 2012 10:53 pm
Latest topics
» Những tình khúc vượt thời gian
Yesterday at 10:00 pm by phannguyenquoctu

» Thầy Ngoạn Cô Hoa
Fri Sep 23, 2016 11:49 pm by phannguyenquoctu

» Cáo phó: Mẹ bạn Lê Tuấn Phát C5 qua đời 18/9/2016
Sun Sep 18, 2016 11:23 am by TLT

» Cáo phó: Cha vợ của Phan Nguyễn Quốc Tú qua đời 15/9/2016
Sun Sep 18, 2016 11:18 am by TLT

» Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Wed Sep 14, 2016 12:43 am by phannguyenquoctu

» Phim hành động, võ thuật tổng hợp
Tue Sep 13, 2016 12:03 am by phannguyenquoctu

» Khai giảng 2016 - 2017
Wed Sep 07, 2016 4:14 pm by TLT

» Cáo phó (25/7/2016): Cụ Ông cha của bạn Lê Văn Giàu qua đời
Wed Jul 27, 2016 9:57 am by TLT

» Bạn Phan Tấn Hoàng mãi ở lại trong lòng gia đình, người thân, của 87TuNghia và bạn bè thân hữu
Sat Jul 23, 2016 4:01 pm by phannguyenquoctu

» Phương pháp học tập siêu tốc
Wed Jun 29, 2016 10:43 am by phannguyenquoctu

» Mạc Đĩnh Chi
Mon Jun 27, 2016 10:18 pm by phannguyenquoctu

» 4 cách tự kiểm tra sức khỏe tại nhà chỉ mất một phút
Fri Jun 24, 2016 2:52 pm by phannguyenquoctu

» Kỹ năng tổng hợp
Sun Jun 12, 2016 9:53 pm by phannguyenquoctu

» hãy trả lời em....
Wed Jun 08, 2016 9:52 pm by phannguyenquoctu

» Clip những bức ảnh biết chuyển động kỳ diệu
Sun Jun 05, 2016 3:59 am by phannguyenquoctu

» Điều gì xảy ra nếu bạn ăn hoa chuối
Sat Jun 04, 2016 8:19 pm by phannguyenquoctu

» Tự chữa tiểu đường từ lời một chân tu: Bạn có đoán được tên phương pháp này?
Tue May 31, 2016 12:03 pm by phannguyenquoctu

» Phan Nguyễn Quốc Tú - Hè 2014
Fri May 27, 2016 3:14 pm by TLT

» Bế giảng năm học 2015-2016
Fri May 27, 2016 3:06 pm by TLT

» Điều gì xảy ra nếu bạn ăn hạt đu đủ thường xuyên?
Fri May 27, 2016 3:05 pm by TLT

» 8 kiểu đặt ngón tay sau hay còn gọi là thủ ấn sẽ mang đến những lợi ích bất ngờ cho sức khỏe.
Tue May 24, 2016 11:00 pm by phannguyenquoctu

» Gõ đầu trẻ
Sun May 22, 2016 12:33 am by phannguyenquoctu

» Giáo sư nổi tiếng người Bulgary mách bạn cách phòng ngừa ung thư
Fri May 20, 2016 9:56 pm by phannguyenquoctu

» Tin Giáo dục
Thu May 19, 2016 11:37 pm by phannguyenquoctu

» thực phẩm sạch
Mon May 16, 2016 6:43 pm by phannguyenquoctu

Top posting users this week
phannguyenquoctu
 

Top posting users this month
phannguyenquoctu
 
TLT
 

Top posters
phannguyenquoctu (6138)
 
TLT (2009)
 
letansi (1008)
 
le huu sang (320)
 
lamkhoikhoi (299)
 
pthoang (257)
 
luck (220)
 
sóng cát trùng dương (209)
 
hatinhve (181)
 
Admin (156)
 

September 2016
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
2627282930  

Calendar Calendar


Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Trang 4 trong tổng số 4 trang Previous  1, 2, 3, 4

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Re: Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bài gửi  phannguyenquoctu on Wed Apr 15, 2015 10:14 pm

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc


Bản dịch Anh ngữ “Gươm Báu Trao Tay”
Posted: 14 Apr 2015 06:41 AM PDT
Bản dịch Anh ngữ Gươm Báu Trao Tay
(viết về Kinh Kim Cang)

Ghi chú: Năm 2003, tôi cho ấn hành cuốn Nghĩ Từ Trái Tim, viết về Tâm Kinh. Thật ngạc nhiên, nhiều bạn đọc gần xa rất chia sẻ, có bạn lại mong có được bản dịch Anh ngữ để cho con em họ – thế hệ thứ hai – ở hải ngoại không rành tiếng Việt được đọc và hiểu Tâm Kinh Bát Nhã. Đến năm 2008, sau khi nghiền ngẫm, thực hành Kim Cang, tôi cho ra mắt cuốn Gươm Báu Trao Tay, những cảm nhận và thực hành của mình về Kinh Kim Cang , như một sẻ chia của người Thầy thuốc nhiều năm “lên non hái lá” về chữa bệnh thân- tâm cho chính mình và cho bạn bè đồng bệnh tương lân. Hầu hết các bài viết này đều đã được đăng trên Tạp chí Văn hóa Phật giáo và sau đó thấy xuất hiện trên một số trang mạng Phật học. Vài năm trước đây, Ban Phật học chùa Xá Lợi cũng đã mời tôi trình bày một buổi cho các Phật tử tại chùa với đề tài “Vận dụng tư tưởng Kim Cang vào cuộc sống” rất được bà con hoan hỷ. Lại cũng có người mong được có bản dịch sang tiếng Anh quyển Gươm Báu Trao Tay cho bạn bè, em cháu đang sống ở nước ngoài được đọc. Có lần tôi thử đề nghị người bạn, anh TNL, đệ tử thầy Bhante Henepola Gunaratana đang sống ở Mỹ dịch sang Anh ngữ nhưng anh nói đọc thì hay mà dịch thì khó quá! Mãi gần đây, duyên lành, tôi được một độc giả đang sống ở Paris là GT Diệu Hạnh, tình nguyện dịch cuốn Gươm Báu Trao Tay sang tiếng Anh. Còn gì vui hơn! GT Diệu Hạnh là dịch giả chuyên nghiệp, lại là một Phật tử thuần thành, thường dịch thuật cho các buổi thuyết giảng về Phật pháp của các vị Thầy người Việt và các vị Rinpoche Tây Tạng khi đến Pháp. GT Diệu Hạnh cũng là người cùng Nguyễn Minh Tiến đã Việt dịch các cuốn Sống Một Đời Vui (The Joy Of Living) và Trí tuệ hoan hỷ (Joyful Wisdom) của Yongey Mingyur Rinpoche từ bản Anh ngữ đang có mặt ở các nhà sách.
Tôi vẫn chưa có dịp gặp GT Diệu Hạnh, trong quá trình dịch Gươm Báu Trao Tay chỉ trao đổi qua email, nhưng cô làm việc rất nghiêm túc và cẩn mật. Đến nay bản dịch vừa hoàn tất và cô đã gởi toàn bộ về tôi. Tôi chưa xin phép cô nhưng muốn chia sẻ ngay nơi đây vài Chương trong bản dịch này để giới thiệu trước đến bạn bè thân quen và cả các em cháu “không rành tiếng Việt” theo yêu cầu của họ bấy nay.
GT Diệu Hạnh cũng từng nói rất mong… được lắng nghe các góp ý từ bạn đọc về bản dịch này.

Trân trọng,
BS Đỗ Hồng Ngọc.
(Saigon 12.4.2015)



 

Gươm Báu Trao Tay

(Viết về Kinh Kim Cang Bát Nhã)
Lời ngỏ
Người xưa tìm thuốc lên non hái lá. Thử nếm. Thử chữa bệnh cho mình. Rồi mới dám mà sẻ chia cho bạn bè hàng xóm, giữa chốn thân quen. Phải phơi nắng, phơi sương, phải chẻ, phải sao, phải sắc. Ba chén sáu phân. Tùy bệnh tình mà gia giảm. Có khi phải dùng nước mưa, có khi nước giếng, có khi nước lá sen… Phải dùng siêu đất nung nửa đen nửa đỏ, phải canh ngọn lửa than hồng nửa phừng phực nửa riu riu… Đâu có mà dễ dàng! Thuốc chữa đựơc bệnh cũng là thuốc độc. Chỉ cần một chút sơ sẩy, hững hờ!
Tôi là một người thầy thuốc, một bác sĩ, mà cũng là một bệnh nhân, lắm nỗi lao đao, đi tìm thuốc chữa cho chính mình. Mới thấy tốt nhất là đừng nên có bệnh! Đừng phải cần đến thuốc men. Nhưng
“Không hẹn mà đến, không chờ mà đi, bốn mùa thay lá thay hoa thay mãi đời ta…” (Trịnh Công Sơn)
Có lần tôi hỏi một vị sư có phải câu hay nhất trong Kim Cang là “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” không, sư nhẹ nhàng bảo không, Kim Cang câu nào cũng hay! Câu nào cũng hay? Vậy mà sao ta chỉ thấy những chưng hửng, ngẩn ngơ, lủng ca lủng củng. tối mịt tối mò. Hay là đã tự ngàn xưa nên tránh sao khỏi tam sao thất bổn? Hay là phải chắt lọc bốn câu một kệ mới thấy chỗ vi diệu thậm thâm? Làm sao mà “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” đủ làm cho Lục tổ Huệ Năng đại ngộ? Làm sao mà “đối cảnh vô tâm” đủ làm cho vua Trần Nhân Tông trở thành Tổ sư thiền phái Trúc Lâm?
Làm sao mà hai trăm năm trước Nguyễn Du phải đốt nến đọc Kim Cang đến ngàn lần…

Ngã độc Kim Cương thiên biến linh/ 
Kỳ trung áo chỉ đa bất minh!
(Kim Cương đọc đến ngàn lần/ Mà trong mờ ảo như gần như xa- T.V) để rồi cuối cùng mới chợt tỉnh thấy ra kinh không chữ mới thật là chơn kinh ( chung tri vô tự thị chân kinh-Nguyễn Du)! Kinh không chữ ư? Đọc giữa dòng ư? Lục tổ đã chẳng bảo “Ta không biết chữ, chỉ biết nghĩa!” đó sao? Nhưng cũng chính ngài ân cần dặn dò không đựơc bỏ sót dù một câu một chữ! Khó vậy thay!

Chợt nhớ chỉ một tiếng “OM” hôm nào vang lên trong đầu chàng sa môn tuyệt vọng sắp đắm mình vào dòng nước biếc mênh mông bỗng thấy ra khuôn mặt đầy khổ đau già cỗi đáng thương của mình mà bừng ngộ trở thành ông lão chèo đò ngày ngày đưa khách sang sông. (Câu chuyện của dòng sông, Hermann Hesse). Một câu, một chữ chẳng đã có thể chuyển hóa nỗi khỗ đau thành niềm hạnh phúc, nỗi tuyệt vọng thành niềm an vui đó sao?
Câu hỏi ngàn đời của Tu Bồ Đề “Vân hà ưng trụ? Vân hà hàng phục kỳ tâm?…” chẳng phải cũng là câu hỏi của chính ta hôm nay- giữa bủa vây trùng điệp của âu lo và căng thẳng trong một thế giới nhỏ như lòng bàn tay mà nghìn trùng xa cách?
“Gươm báu trao tay” có thể là một thanh kiếm sắc- chém thép như chém bùn- có khả năng chặt đứt bao nỗi muộn phiền, nhưng cũng có thể chỉ là một thanh kiếm gỗ của chàng Vô Kỵ (nhân vật Kim Dung) – nhờ nội công “thâm hậu” tự bên trong mà khắc chế đựơc đại địch. Không phải vô cớ mà Edward Conze, người đã dịch Kim Cang sang tiếng Anh từ hơn nửa thế kỷ trước đã từng khẳng định hãy ứng dụng vào đời sống hằng ngày đi rồi mới thấy tác dụng kỳ diệu của Kim Cang!
Vượt qua cái chữ, thấy đựơc kinh vô tự, ấy là đã thôi không dừng trên văn tự nữa mà đã bước vào quán chiếu để từ đó mà thấy đựơc thực tướng Bát nhã!
Nó vậy đó. Nó “Như như bất động”. Nó Chân Như.

Kẻ làm thầy thuốc có thể chữa được cái đau mà không chữa được cái khổ. Có thể chữa được cái bệnh mà không chữa được cái hoạn. Có thể chữa được cho người mà không chữa được cho mình. Nên phải cầu học, tìm học khôn khuây.
Đâu dám mà lạm bàn những điều “thậm thâm vi diệu”.
Chỉ là một cách nhìn, cách nghĩ. Một cách học, cách hành. Một cách dùng thuốc.
Và mong được sẻ chia.
Trạm trạm nhất phiến tâm/ Minh nguyệt cổ tỉnh thủy.
Vằng vặc một tấm lòng/ Giếng xưa trăng rọi bóng.
(Nguyễn Du)

Đỗ Hồng Ngọc
. Saigon, tháng 5/2008 .

 

HANDING DOWN
the
PRECIOUS SWORD

(Do Hong Ngoc, MD
English translated by GT Dieu Hanh)

FOREWORD
 In the past, the ancients climbed mountains to gather medical herbs. They would test them on themselves first and try to treat their own illness. Only then, did they dare to share them to their neighbouring friends and acquaintances. The herbs first must be dried under the sun or in the morning dew, then cut, sliced before being put to boiled [in an earthen pot] to make a certain measure of decoction, three cups 6 ounces, according to the disease to be cured. For that, sometimes the rain water or water collected on lotus leaves would be called for. The earthen pot would be baked until its colour turned half black half red and the herbs would be boiled using charcoal that yielded half blazing half gentle flame. It’s no picnic! Healing remedies can become poison. A second of inattention, of carelessness and…
I’m a physician, a medical doctor but also a patient, an ill person, who had painfully looked for remedies to heal my own diseases, and realised that it is best not to take ill and not to have recourse to remedies… But:
Unwanted and unexpected, the four seasons come and go,
rotating flowers and leaves and moving my life around over and over..
Không hẹn mà đến, không chờ mà đi, bốn mùa thay lá thay hoa thay mãi đời ta (Trịnh Công Sơn)

Once I asked a monk whether the best sentence in the Diamond Sutra is “to dwell nowhere to generate a mind”, he gently answered “no, in the Diamond Sutra every sentence is the best”! Every sentence is the best? But why one is puzzled, bewildered by such a dissonant, haphazard reading? What if the Sutra came from so far in the past that its meaning was altered and distorted? Or must we condense it into one “stanza of 4 lines” in order to appreciate its depth and sagaciousness? How come that the sentence “dwell nowhere to generate a mind” was sufficient to make the 6th Zen Patriarch attain the great enlightenment? How come that by only being “empty mind” in front of whatever phenomena, the king Tran Nhan Tong became the Zen patriarch and founder of the Truc Lam school? And how come that 200 years ago, Nguyen Du had to light candles to read the Diamond Sutra thousands of times:
I read the Diamond Sutra more than one thousand times
Its content was still abstruse and not clear in many places…
Ngã độc Kim Cương thiên biến linh
Kỳ trung áo chỉ đa bất minh (Nguyễn Du)
and finally, he realized that “wordless sutras are the genuine teachings” (Chung tri vô tự thị chân kinh). Wordless sutras? Must we read between lines to find the meaning? The 6th Zen patriarch said “I don’t know words but I know their meanings”, didn’t he? But this same patriarch also heartily reminded us that no word, no sentence in a sutra should be disregarded. How demanding!
Suddenly, I remember the single sound “OM” that resounded in the mind of the monk who was so desperate that he was about to jump in the wide blue water to end his life. But he had a glimpse, on the water, of a tormented and pitiful old face, and was awaken. He became an old ferry-man on this river afterward (Siddharta, by Hermann Hess). Doesn’t that prove that one sentence, one word has the power to turn suffering into happiness, or desperation into contentment?
Subhuti’s question thousands of years ago “where they can dwell, how can they subdue their mind” is still relevant today as we are tightly besieged by stress and anxiety in a world as small as the palm of our hands, but in which people seem to live a thousand miles from each other.

The precious sword that was handing down might be very sharp and could slash through iron as through mud, and able to sever all our predicaments. But it might also be a wooden one, like that of Vo Ky (a character of Kim Dung’s martial novels), with which he repelled a flock of enemies through his very powerful inner energy.
It was not without reason that E. Conze who had translated the Diamond Sutra into English more than half a century ago, affirmed that if applied to our everyday life, the Diamond Sutra can have wonderful effects.
To go beyond the words and find out what’s a wordless sutra means that one had relinquished words and letters to enter the reign of contemplation and been awaken to the true nature of the prajna!
It’s this way, it’s unmoving true reality, it’s Suchness.

A physician is able to heal physical pains but not the mental suffering. He can fix diseases but not tragic situations in which are plunged his patients. He can cure others’ illness but not his own. So he must study and cultivate to find comfort. I don’t dare to dabble in things so “deep and wonderful”, but it’s my way of seeing, my way of studying and practicing, that I wish to share with:
a heart that shines as the bright moon
reflected on the water of the old well
(Trạm trạm nhất phiến tâm, minh nguyệt cổ tỉnh thủy) (Nguyễn Du)

Đỗ Hồng Ngọc
Saigon, May 2008

1. Onwards on the Path
When I first read the Diamond Sutra, I was a bit startled and rather confused. Up to now, upon hearing someone recite the passage “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” He (the bodhisattva) can only give rise to that mind without dwelling anywhere, I always thought it was a comforting mantra to soothe one’s anguish state of being. I’ve even read that the 6th patriarch Hue Nang, one day while out selling wood casually heard someone quote that passage and he was instantly enlightened. For me, the more I hear it, the more I’m lost in the fog of confusion.
After the publication of my book Thinking from the Heart, which comprised of my every thought and feeling about the Heart Sutra, I felt that my understanding was somewhat better though some confusion remained. For this reason I wanted to study other sutras to gain a little bit more clarity, in hopes of obtaining more faith and thorough practice. Knowing and Understanding is one thing, but to transcend from Knowing to believing, practicing, and remaining aware is not easy. That is why in the Heart Sutra, the Bodhisattva Avalokiteshvara is said to “practice deeply the Prajna Paramita…” acknowledging that the five aggregates are empty, and then was freed from all suffering and misfortune. He was so happy that he cried out “Bodhi! Swoha!” but the Buddha admonished “Go on practicing deeply. Practice more deeply. Nothing has been achieved. Don’t be self-satisfied. Don’t be neglectful”.
I studied the Diamond Sutra and was surprised to find myself as captivated as I was when I studied the Heart Sutra earlier on. Sometimes I was surprised, sometimes I was puzzled, sometimes baffled, sometimes perplexed. Despite the existence of numerous sutras [taught by the Buddha] there is clearly a consistent unity of principle that went from the beginning to the end, with the methods of teaching vary depending on the audience for the teaching. If one can grasp the essence, maybe one will be less perplexed and be able to find “the way in”?
One reason for my perplexity when studying the Diamond Sutra was that I expected to study, listen and learn the profound and scholarly teachings of the ancient mysterious Dharma. But, oh my goodness, the Diamond Sutra begins with a very normal, not to mention trivial and somewhat elementary, story: The Buddha, sensing he was hungry at mealtime, would put on his robe, retrieved his begging bowl and went to beg for alms. He did not deign to say a word, not even clear his throat to assert his authority. Just think, at that time there were thousands of people, great bodhisattvas, arahants, “dignitaries”, close disciples, all sitting there waiting eagerly for a profound teaching. But the Buddha just donned his robe, took his bowl and went into the city to beg for food. When he deemed the food enough, he came unhurriedly back to the “assembly”, took out his food, ate it, then put bowl and robe neatly away, washed his feet, took the cross-legged position, and breathed deeply… which means he entered … a dhyana absorption! Not one word was said. Not even a small murmur of instruction! I imagined, if I was there, hanging somewhere around outside in the corridors waiting to listen to the teaching, how I would be frustrated out of my mind and utterly dismayed! All of a sudden, Subhuti appears from among the seated crowd. Jumping up on his feet to a revered ceremonious bow to the Buddha, he said “It is very rare, World Honoured One! How well the Tathagata protects and thinks of all Bodhisattvas, how well He instructs all the Bodhisattvas”!
Like a big explosion catching everyone off guard, so came the impact of the delivered message in the lesson that no one had initially realized! From shock turned to discomfort. Oh my God, we didn’t pay attention carefully for the unspoken teaching given by the Buddha! Fortunately, Subhuti did! Otherwise, we’d be sorry to miss such an opportunity!
The Buddha has his own method of teaching: he does not speak, but he acts for us to see. This is a very new and modern instructional method to teach “life skills”, called “demonstration” which means to show, to give example to be followed. Once more, we see that learning and practicing Buddhism involve doing, not speaking. Do first, explain later. In fact, there may not be a need for speech at all. We understand now why the Zen masters required their disciples to cut wood, cook meals, fetch water, plant vegetable, and pound rice … without uttering one word of teaching. Until the student discovered an urgent need to be taught, then the teaching will be given but in a unique way: sometimes by capsizing a boat, sometimes a knock to his head, or a reply in riddles, or sometimes by an ambiguous answers like “give me your mind, I’ll pacify it”. The student at first will be stupefied… then later enlightened as if awaken from a delusion! At the end of the school, the student will not receive any diploma to show off, and the master has nothing to give him either. Because “the thing” inherently already exists within the pupil, the master only helps him to unearth it and experience the discovery of the “resolution” for himself. This process is called “counselling”, a contemporary method in psychotherapy and modern day medical treatments. The counsellor is like a midwife; she helps the mother to give birth but cannot give birth in her place. The child already exists in his mother’s womb.
Back to the lesson, everyone felt a rude awakening and suddenly realized that the Buddha had taught them their first lesson: eat when you are hungry, drink when you are thirsty. Eat when it’s time to eat. Those who say that they don’t need to eat do not know how to live, or they simply lie. Almost 2000 years later, Tran Nhan Tong, a king of the Tran dynasty of Vietnam and a great Zen master, founder of the Truc Lam Yen Tu school, also mentioned it in a poem of his “Cu Tran Lac Dao” (To enjoy the path while living a worldly life): “when hungry, eat ; when tired, sleep” (Cơ tắc xan hề khốn tắc miên).
Even the Buddha was busy putting his robe and taking his bowl to go for the alms, let alone us! A special note worth mentioning here: Buddha, a World Honoured One, at the slightest hint of food would receive variety of delicious and exotic offerings bestowed upon him. His attendants have likely already prepared a savoury meal for him, to be served after the teaching. But alas no, the Buddha went out to beg the food himself, relying on no one. He did not eat the good food prepared for him, but lived by his own teachings. How can we not but be in awe and amazed? Some high-ranking monks (“dignitaries”) there… uneasily pondered, being served feasts of “delicious and exotic” vegetarian delights. Nowadays there are even vegetarian food creations that strikingly resemble prawns, fish, chicken legs… quite controversial! We are also amazed because the Buddha, a being of the highest status as the World Honoured One, with dozens of “venerable titles” and still was such a simple man! He still walked barefoot peacefully carrying his bowl. He stilled trudge along hot midday sun begging for alms, eating whatever food he was given. The Buddha walked serenely, naturally, aware of each step, not caught up by judgments or comments about him, around him. He only breathed with each step, easily, gently, feeling good! He did not choose rich households to beg, nor did he choose the poorer ones which might be kinder, or the people he were acquainted with to be sure that he would receive something. The Buddha unhurriedly went from house to house, there was no need to make any difference, no need to help only the rich or the poor! Everybody has problem, everybody suffers. The poor have poor’s problem, the rich have rich’s problem! But after a few hours walking, any food can become delicious one, easily digested if eaten mindfully, if chewed mouthful per mouthful. It seems the bowls were just big enough for only one person’s need, just so there was not too much food nor leftovers.
Nowadays it is very rare to see mendicants in town, but if one has the chance to see a monk in yellow robe, carrying a bowl, mindfully walking easy steps and begging his food at each doorstep, we can’t help but admire and being moved by the Monks of a thousand years past. At present, there is no need to go to each house begging for each meal, but it is still good for your health if you could walk a few hours per day. Simple food, with plenty of vegetable, beans, limited in fat, sugar and salt, are also very good for your health. Above all if your meals are taken in a good setting: leisurely enjoyed in a relaxing atmosphere, with simple and sufficient food, then every meal is good and healthy.
After his lunch, the Buddha put everything away neatly, washed his feet and sat down to meditate. Note here that he did not go straight to bed or participated into any heavy discussions, but sat peacefully, meditating. Maybe that is the best time to follow each activity of your body, to feel how your food is digested, absorbed, transformed into energy in each one of your cells. The teaching has been set in motion. If we are mindful and carefully observe the Buddha when he carries his bowl and went to each house, we would be likely to discover more insights and interesting details. For example, the mendicant was not the receiver but actually the giver. Here we cannot distinguish who is begging and who is giving. When the mendicant shows up at the door the householder is exuberant, feeling great joy and happiness, not only because the mendicant was the Buddha, but also the act of begging itself has another meaning: it gives a meaning of a gentle reminder and suggestion. The householder has the opportunity to look at himself, to hear some voice from the deepest place of his heart… perhaps he will forget it quickly, but the day will come when he remembers this moment of teaching. As for the wealthy, they may start to see that the barefoot, bareheaded monk, standing with his begging bowl at their doorstep was a crown prince who renounced his kingdom, his palace life and beautiful courtesans, and for whom? There might also be some who turned him out, shouted abuses at him, but they still received a grateful look, a sweet smile and the peaceful steps of the mendicant. At night, these men will remember, and surprised to hear another voice within their heart. There are poor people, who do not have enough to eat themselves let alone to give. But they can exchange a friendly expression, a compassionate smile. His respect, His equanimity betrays a lot of things. In fact, if one examine closer, when the Buddha got up and put on his robe, took his bowl… each one of his gesture has a dignified mannerism quite unlike ours. If someone still insists to question what the dissimilarity is between the Buddha’s action of preparing his robe and bowl compared to our own, it’s likely the Buddha will smile gently and say “oh yes, there is…”. The Buddha donned his robe and took his bowl with awareness, while we tend to make the same attempts quite hurriedly fetching the robe and haphazardly grasping the bowl…
Through the process of demonstration, every gesture, every movement should be observed closely and noted in detail so as we can replicate the teachings and actions. All along this teaching, we learn more than we can imagine: how to give but not giving, to hold precepts but not holding precepts, to be forbearing without being forbearing, as well as being temperate, content, diligent, mindful … while at all times remain in a serene, peaceful, relaxed, wise state of mind. No wonder Shubuti praised the Buddha “It is marvellous…The Tathagata blesses bodhisattvas with the best of blessings and entrusts bodhisattvas with the greatest trusts!”

(continued)

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6138
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bài gửi  phannguyenquoctu on Tue May 12, 2015 12:01 am

Giúp cha mẹ già vui
Posted: 07 May 2015 12:16 AM PDT

Giúp cha mẹ già vui

“Làm thế nào để giúp cha mẹ già được vui? Bác sĩ có những kinh nghiệm riêng gì xin chia sẻ”. Cảm ơn câu hỏi khó của bạn. Như bạn nói, khi bạn gần đến tuổi “tri thiên mệnh” thì cha mẹ đã U80. Thời gian trôi qua lúc nào đó vậy?

Khi mẹ tôi mất ở tuổi 94 thì tôi cũng “cổ lai hy” rồi. Tôi nhớ những năm sau cùng của mẹ tôi, bà không đi lại được nữa nhưng vẫn rất sáng suốt. Tôi thường dành thời gian ngồi cạnh bà, tranh luận đủ thứ, nhằm mục đích giúp tế bào thần kinh bà được hoạt hóa, không sớm rơi vào Alzheimer. Tôi nhớ có lần bà bảo tôi là người “ngu nhất thế gian”, vì không biết “mần ăn” gì cả, tôi cãi rằng tôi chỉ có thể “ngu” hạng nhì hay hạng ba thôi. Rồi hai mẹ con tranh luận với nhau… sôi nổi. Có lúc tôi hỏi chuyện ngày xưa đám cưới của bà ra sao, nghe nói rước dâu phải cưỡi ngựa đi dọc biển… Bà hào hứng kể rất vui. Lại hỏi duyên gì gặp Ba, nghe nói ba có thương một cô trước khi gặp bà, “Cô ấy có đẹp không?”, tôi vặn hỏi. Bà ngần ngừ một lúc rồi trả lời: “Cũng đẹp”! Có lúc tôi nhắc  chuyện thời tản cư theo Ba tôi cực khổ trong rừng, thời khó khăn ở trọ trong chùa khi Ba tôi mất, rồi nhắc những việc bà đã làm tốt đẹp cho con cháu, cho người này người kia  v.v… bà rất cảm động. Có dịp tôi đưa bà về quê thăm bà con v.v… Một hôm bà nhìn tôi hồi lâu rồi nói: Má thấy con cũng… già rồi đó! Tôi cười, mới hơn 70, già gì! Lão Lai ngày xưa tuổi này còn làm hề chọc cha mẹ vui! Dĩ nhiên tôi không quên trao đổi với bà những vấn đề về tâm linh, về nhân quả, về nghiệp báo luân hồi…Vì bạn đã hỏi “kinh nghiệm riêng” nên tôi chia sẻ vậy.
Tôi có nhóm bạn già, thường trao đổi “meo” cho nhau. Mới rồi, nhận được cái meo có kèm bài viết không biết tác giả là ai cảm thán về thế hệ chúng tôi, lứa U80 như sau: “ Các lão bằng hữu ơi, cần phải ghi nhớ chúng ta đều là những con người của cái thế hệ cuối cùng hiếu thuận với cha mẹ, lại cũng là những con người của cái thế hệ đầu tiên bị con cái bỏ rơi”. Nghe ngậm ngùi quá đỗi! Vì đâu nên nỗi? Bởi vì thế hệ trước đây của chúng tôi học Quốc văn giáo khoa thư, học Nhị thập tứ hiếu, gia đình nhiều khi “tứ đại đồng đường” (bốn thế hệ cùng sống chung dưới một mái nhà), xóm làng gần gũi, dư luận buộc ràng,  nay thì đời sống đã khác hẳn. Gia đình hạt nhân, nhiều cặp ly hôn ly dị, single mom, single dad v.v…, nhiều gia đình chỉ có một con duy nhất làm sao gánh nổi ông bà nội ngoại hai bên?  Ông cảm thán vì tương lai không xa, rồi đây các thế hệ già sẽ được nuôi trong nhà dưỡng lão, nên ngay bây giờ phải coi chuyện “con cái bỏ rơi” là chuyện bình thường, có hiếu thuận là thỉnh thoảng con cái nhớ mà đến thăm đôi khi. Bạn có nghe bài “Mới hôm qua thôi” chưa nhỉ? (https://www.youtube.com/watch?v=j60WwjpilQA).
Tôi muốn trích thêm một đoạn trong một bức thư viết cho con của một ông lão (cũng không biết tác giả là ai, xin chân thành cảm ơn):
“… Người già sợ nhất cảnh cô đơn nên nếu các con đã hiểu thì hãy thương cho tròn. Tình thương ấy không đánh đổi bằng tấm ngân phiếu kếch xù hay quà bánh đắt tiền mà chính là… thời gian. Một lúc nào đó trong ngày mà các con thấy trống vắng thừa thãi thì hãy mang đến tặng Bố giờ phút vô nghĩa ấy! Bản chất nó vô giá nhưng lại vô cùng quý báu nếu chia sẻ đúng đối tượng… Con dư biết, sáng chiều Bố lủi thủi hết ngồi lại nằm, cô đơn bên cạnh một người trả công chỉ biết im lặng canh chừng. Nếu con đến thăm, nhớ bỏ hết công việc và lo toan ở ngoài xe trước khi vào nhà, tránh cảnh thân tâm mỗi chỗ mỗi nơi để cha con sống thật những kỷ niệm cuối đời bên nhau. Người già như Bố đương nhiên ăn nói sẽ không còn mạch lạc hấp dẫn, xin con đừng nhăn nhó… Hãy nhẫn nại ngồi nghe như thuở nuôi con còn bé, Bố đã từng chăm chú theo dõi tiếng con bi bô học nói… lặp đi lặp lại nhiều lần một chữ từ ngày này qua ngày nọ liên hồi…”.
Các nghiên cứu về người già ngày nay đề ra các cách giúp cha mẹ già được vui như sau:
 
 * Dành thời gian ngồi bên họ, nhắc những việc xưa, như một cách tỏ lòng biết ơn, rằng nhờ họ mà mình có được như ngày nay;
 
* Chụp hình cùng cha mẹ, sưu tầm những hình ảnh kỷ niệm của gia đình từ lúc còn thơ, dán vào một album hay làm một cuộc “triển lãm” nhỏ, để gợi nhớ kỷ niệm: “ngày này năm xưa em còn bé tí teo”, hay “bé lên ba bé vô mẫu giáo”…
 
* Đưa cha mẹ đến những nơi có nhiều kỷ niệm để họ có dịp thăm lại bạn bè, kẻ còn người mất, để cùng nhắc chuyện ngày xưa;
 
* Đi thăm những bà con lâu ngày chưa gặp lại. Có cơ hội thì giúp đỡ bà con nghèo khó của ít lòng nhiều càng có ý nghĩa.
 
* Tổ chức những buổi họp mặt gia đình. Họp mặt bạn bè cùng lứa của cha mẹ. Giữ “bí mật” để tạo những bất ngờ thú vị. Đưa cha mẹ đi xem triển lãm, ca nhạc, phim, kịch nếu có thể.
 
* Sưu tầm những bản phim xưa, bài hát cũ mà họ ưa thích. Sưu tầm các bài báo, hình ảnh… về thành tích của họ trong lãnh vực văn nghệ thể thao nghề nghiệp v.v… làm thành tập tư liệu để cùng nhắc những niềm hãnh diện xưa ít ai còn nhớ!
 
* Có thể đưa họ đến những buổi sinh hoạt của nhóm người già, những câu lạc bộ, hội quán người cao tuổi, thậm chí nhóm bạn chơi bài tứ sắc, mạc chược, cờ vua, cờ tướng…
 
* Những bậc cha mẹ còn tương đối khỏe, thì nên học một trò chơi games mới, một môn ngoại  ngữ… Học như vậy làm cho các tế bào não không bị rỉ sét, các dây nối kết thần kinh hoạt hoá trở lại, sinh động trở lại vì ngày nay người ta biết tế bào não rất nhu nhuyến và có thể sinh sôi!
BS Đỗ Hồng Ngọc.
 
Thư gởi bạn xa xôi: “Mới Hôm Qua Thôi” (lời Anh)
Posted: 06 May 2015 03:01 AM PDT
6.5.2015
Thư gởi bạn xa xôi,
Bạn nhớ Hồ Đắc Đằng không? Anh bạn đồng khóa y khoa Saigon với bọn mình (1962-1969), một cây piano nổi tiếng của trường, nhớ không? Một hôm, Bác sĩ Đằng nghe được bài hát “Mới hôm qua thôi” do nhạc sĩ Vĩnh Điện phổ thơ mình “Trong một nhà giữ lão ở Montreal” qua giọng ca của Vũ Hoành đã xúc động gởi email về mình (qua Nguyễn Kim Hưng)
(10.4.2015)
Ngoc oi ,
Dang day .
Toi khong chac cai nay den ban duoc , cai E mail ban cho toi may nam truoc no khong qua duoc . Neu qua duoc thi ban tra loi .
Toi duoc nghe cai bai hat tren You tube  , tho DHN , nhac Vinh Dien ; ca si  Vu Hoanh . Toi thich cho den doi , toi dich ra English  cai lyric cua ban cho cac ban My cua toi o day . Ban co the nao lien lac voi anh Vu Hoanh xem anh co the hat  cai Lyric English  chang . Cac ban My  cua toi o day  se mung lam  .  Neu hat duoc , ban nen de len You tube cho  English speaking folks  thuong thuc luon .

 
Hồ Đắc Đằng ơi,
Mừng quá, được email của bạn. Bọn này , DHNgọc, TTMinh… đi cafe vẫn nhắc bạn luôn đó chớ!
Bài thơ “Trong một nhà giữ lão ở Montreal” mình viết năm 1993, khi ghé Montreal, mới đây nhạc sĩ Vĩnh Điện phổ, đề nghị đổi thành Mới Hôm Qua Thôi đang có trên Youtube, và chỉ trong một tháng đã thấy có trên 30 ngàn lượt truy cập!
Moi Hom Qua Thoi có lời tiếng Anh của bạn nữa thì quá tốt! Mình sẽ liên hệ với anh Vĩnh Điện nhờ ca sĩ Vũ Hoành hát bản tiếng Anh của bạn.
Đỗ Hồng Ngọc.
…………………………………………………………………………………..
Ngoc oi ,
Dang day .
Mung qua , nhan duoc thu ban .  Cam on thang Hung mu qua .
The nay nhe , day la cai ban dich cua toi gui cho nhom ban My , ca cai thu ngan cua ban va bai hat :
In December 1993, in snow-blanketed Canada, I visited a Montreal Nursing Home ,along the St Lawrence river . Canada has a very good health care system for the elderly , possibly the best in the world. My heart , however was heavy when I was exposed  to the human condition of aging . Outside was  such a  peaceful stillness of  an uninterrupted  , immense white space .
I wrote a few sentences , in fact , just as a wandering pen  , to acknowledge  the moment : my first hand  feeling of life in a nursing home  in Montreal  , along a snow covered river .
Twenty years later , , a musician , Vinh Dien , sent me the song with the lyrics from my poem  of the nursing home in Montreal  with the suggestion to change  its title  from “  A poem from a nursing home in Montreal “ to “Only yesterday “. I listened , stunned  . Only yesterday . That ‘s it . With  the singer  passionate voice, with its  illustration  and lively music , I wonder if I should post  this  to share with friends  . Some have suggested that it would be too sad to be reminded  about an unwelcome reality  for all of us .Some thought it would be  good to be reminded  about a universal reality . Hence , it is up to you , with an open heart , to decide .
Kindly , to all.
Do hong Ngoc .
…………………………………………………………………………………………
14.4.15
Ngoc than men,
Hay qua , hay qua .
Toi hom qua , toi ngoi truoc cay dan , khong choi duoc bai gi khac ngoai tap di tap lai cai ban Moi Hom Qua Thoi  cua ban va nhac si Vinh Dien . Toi me man , say me  . Toi pho nhac cho ben ban tay trai  . Cau ma toi  say me nhat lai la cau chot  , bat dau bang Sol cua tay mat . Ca nha di ngu het , chi con toi voi cay dan . Tuyet voi  . Toi thu hat theo , ( tieng Viet )  . Khong duoc , khong hay bang anh Vu Hoanh . Cai cau chot  “ Ngoai kia , tuyet bay trang xoa , Ngoai kia dong song menh mong , menh mong  “ , hai tay toi nhe nhang tren phim dan ma toi chay nuoc mat . Toi luc nay  de cam dong lam  . Ngoi meditation ma mim cuoi voi chay nuoc mat la thuong . Khong duoc dung voi tinh than an tru cua thien lam . Biet sao , minh  chac con mot chut nghe si trong mau day Ngoc a .
Sau day la cai lyric English toi thu de vo cho bai tiếng Viet cua ban (…)
…………………………………………………………………………………………………………………
Đằng ơi,

Bọn mình bây giờ đều vậy, ai cũng cảm xúc tràn trề. Carl Rogers đã nói khi ở tuổi 80, tưởng già thì lạnh lùng, lãnh đạm, nhưng không, càng già cảm xúc càng trào dâng. Nên không lạ, bạn đã nghe tiếng Như Lai (Tathagata/Thusness) rồi đó “Ngoài kia tuyết bay trắng xóa/ ngoài kia dòng sông mênh mông mênh mông”… Không Tử cũng nói: Trời có nói gì đâu!? (Thiên hà ngôn tai) nhớ không?
Đằng ơi, moi đã gởi toi bản ký âm của NS Vĩnh Điện, có thể nào ghi luôn English lyric  vào ngay trong đó không? Moi không rành vi tính. Nhưng thôi, để moi chuyển anh Vĩnh Điện để nếu được thì hy vọng phổ biến rộng hơn (cho các bạn người nước ngoài và người Việt mình, thế hệ thứ hai, không rành tiếng Việt!).
Anh Vĩnh Điện hứa sẽ nhờ Vũ Hoành hát rồi đó.
ĐHN.
……………………………………………………………………………………
28.4.2015
Ngoc oi ,
Dang day .
Day la cai ban nhac “ Moi hom qua thoi “  voi loi Anh  toi tam dich . Toi co gang de  tung chu  vo tung note nhac  .  Anh Vu Hoanh se tu tien chuyen bien neu can  cho no nhip nhang theo tieng nhac . . .
Ban gui loi toi tham hoi 2 anh Vinh Dien va Vu Hoanh  . Sao tu nhien toi lai co mot moi  tinh cam moi voi 2 nguoi ma toi chua he quen biet nay  . Vui qua Ngoc oi .  Dung nhu Einstein noi  , minh cang vui hon khi minh noi rong  cai “  circle of family  “ ma minh bi cai  self  cua minh no bop meo nhu qua mot “ optical  illusion “ .
Thuong ban qua  . Cam on Hung mu , cam on Vinh Dien , Cam on Vu Hoanh .  Ban co nho ai noi “My family now is all beings , my home is earth ,my position is that of a monk who depend  on the generosity of others “ ?
Dang
……………………………………………………………………………………………………………………………………….
Và, như bạn thấy đó, sáng nay, 6.5.2015, nhạc sĩ Vĩnh Điện đã gởi mình khúc hát bằng tiếng Anh này qua giọng ca sĩ Vũ Hoành. Bạn thử nghe xem sao nhé.
Trân trọng cám ơn Vĩnh Điện, Vũ Hoành, Hồ Đắc Đằng, Nguyễn Kim Hưng và tất cả…
 
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.
Vĩnh Điện
Wed, May 6, 2015 at 2:06 AM
Clip “Only Yesterday”

 

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6138
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bài gửi  phannguyenquoctu on Fri May 15, 2015 6:28 pm

Nguyễn Thị Khánh Minh viết về Đỗ Hồng Ngọc
Posted: 13 May 2015 06:24 PM PDT
 
nguyễn thị khánh minh
ĐỖ HỒNG NGỌC,
LANG THANG NGHÌN DẶM TRÁI TIM

(Bài viết này như một chia vui cùng Nhà Văn Đỗ Hồng Ngọc với tác phẩm vừa xuất bản, Có Một Con Mọt Sách).
Trong Lời Ngỏ sách Nghĩ Từ Trái Tim, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc (ĐHN) có nói, tôi viết bằng cảm xúc, bằng sự thể nghiệm đời sống chứ không phải bằng suy luận lý trí. Theo tôi, không chỉ với cuốn Nghĩ Từ Trái Tim, mà tất cả tác phẩm của ông từ thơ, văn, bàn về kinh sách, hay những đề tài có vẻ chuyên khoa (tôi nói có vẻ vì ngay trong những đề tài ấy, ông viết không đơn thuần là khô khan của khoa học, mà đầy tính văn chương), đều được chữ ông chuyên chở những cảm xúc thực từ trái tim.
Tôi hình dung một chiếc xe -chữ- lọc cọc trên con đường đất nâu quê nhà thơm ngấu mùi bùn cỏ nắng trưa, chở đầy hoa đồng nội -cảm xúc-, trên con đường đi cứ tỏa hương tỏa hương… Đấy, nghìn dặm lang thang của một chàng lãng tử rất đỗi nghệ sĩ, mộng mơ… Và Con Đường mà chàng miệt mài đi, nghe ngóng, kiếm tìm ấy là Trái Tim. Nơi khởi đầu và chung cuộc để con người nhìn ra nhau nhân ái yêu thương. Những điều chàng chắt chiu được trên con đường ấy lại làm quà tặng cho chúng ta -những tác phẩm-. Người nghĩ và sống được như ý nghĩ mình đầy thiện tâm như thế, thật là không dễ. Và không nhiều. Nên chính ông, cũng là một tặng phẩm cho cuộc đời này.

Cũng khởi đi từ nhiệm mầu ấy cộng thêm những trải nghiệm cảnh ngộ trong cuộc đời mà ông đã được người đọc, người nghe, tin cậy. Nếu đọc ông một cách tuần tự rất dễ nhận ra được những tình cảm, kinh nghiệm ấy được nuôi dưỡng, lớn lên, giàu thêm theo thời gian. Giàu thêm chứ không già đi -Cảm Xúc-. Điều lạ ở ĐHN đấy. Kinh nghiệm càng nhiều, càng nghịch cảnh thì cảm xúc càng trẻ trung, cái nhìn về cuộc sống càng giản dị, tình dành cho tha nhân càng thông hiểu bao dung. Phải chăng là một đền đáp của Cảm Xúc cho người biết lắng nghe nó?
Đó là điều tôi cảm nhận về phong cách cùng văn chương của Đỗ Hồng Ngọc.
Tôi cũng có được duyên may để quen và được xem ông như một người anh. Có một ngẫu nhiên, tôi là người thích những ngẫu nhiên đem lại cho mình may mắn bất ngờ, hồi tháng 4. 2014, tôi qua một cuộc mổ cột sống khá nặng, vào ngày phải tập đi thì tôi đã không thể bước được, nằm trên giường sợ và khóc, rồi vào mạng tìm nghe đây đó thì tình cờ tôi nghe được buổi nói chuyện của Bác Sĩ ĐHN trên Hoa Mặt Trời, nói về niềm hạnh phúc khi ông bước đi những bước đầu tiên sau cuộc mổ sinh tử, nghe xong tôi thấy mình bình tĩnh hơn, và sáng hôm sau tôi tập đi được 2 phút, trong niềm vui, càng thấy thấm thía những điều ông nói, hạnh phúc hóa ra là những điều rất giản dị, sáng mở mắt tai nghe được tiếng chim hót, biết được nỗi tuyệt vời của thiên nhiên muôn loài. Bước được bằng hai chân, cảm được hạnh phúc của một thân thể lành lặn. Phone reo nghe tiếng bạn hỏi thăm, nghe được nỗi ấm áp sẻ chia, từ đó thấu được nỗi đau của những mất mát quanh ta… Vậy đó, từ cảm ngộ của người vừa nhảy qua bờ tử kia đã khiến tôi biết tận hưởng, trước hết, là hơi thở của mình. Cái kho báu đang-là ấy chẳng bao giờ vơi. Càng lấy nó cứ càng đầy. Đó là duyên tôi có được sau khi chỉ nghe một buổi ĐHN nói chuyện trên Hoa Mặt Trời. Tôi biết đóa hướng dương ấy luôn cười và chỉ cho anh em, kia mặt trời đang mọc, xin hãy nở…
Đúng như nhà thơ Duyên nói trong một e-mail cho anh em, Đỗ Hồng Ngọc ảnh hưởng tới mọi tầng lớp và mọi lứa tuổi, khi họ tìm đến thơ văn ông để tùy hoàn cảnh mà rút ra được những cần thiết cho mình. Chính vì có trải nghiệm và tu tập chiến thắng nghịch cảnh, bịnh tật, ông mới có được phong thái giản dị và nói lời trầm tĩnh khiến văn chương ông có sức hút lạ kỳ. Ông hóa giải những điều buồn khổ bằng sự hóm hỉnh duyên dáng khiến nó trở nên nhẹ tênh. Rất rất nhiều người đã viết về ông, đều cảm nhận như thế, và người đọc ông cũng không phủ nhận được sức quyến rũ, thuyết phục từ những áng văn uyên áo mà dung dị ấy.
Tôi chỉ muốn góp thêm chút cảm xúc của mình khi nghe nhịp đập lang thang của một thời tuổi trẻ phập phồng cùng chiến cuộc. Thời mà tôi gọi các anh là những chàng lãng tử, của Bi Thương và Mơ Mộng. Mỗi người một cách thế để sống và tồn tại trong quãng thời gian khắc nghiệt ấy. Với ĐHN ngày ấy, là Thơ.
Một tập thơ in cách nay gần nửa thế kỷ (1967) có tên Tình Người, với bút hiệu Đỗ Nghê*, ông nói về một ước mơ,
Súng dòn
Ánh sáng lóe lên
Đạn đan trên nền trời
Thành hai chữ Việt Nam
Những kẻ tử thù nhìn rõ mặt nhau
Khóc vì mừng

Anh em
(Ước Mơ)

Định mệnh một cuộc chiến… Đã biết bao gia đình, trong một nhà anh cầm súng vì bên này, em ra chiến trường cho bên kia. Hai phía ngỡ ngàng khi súng đạn lóe sáng nhìn ra nhau anh em… Người thơ ước sao cho đường đi của súng đạn đan thành hai chữ Việt Nam, để thức tỉnh nhau còn khóc được vì mừng… Và dường như có một đau lòng, nỗi chia cắt đất nước, nỗi phân ly ý thức hệ,
Khi ta đưa các con 50 người xuống biển
Và vợ ta đưa 50 đứa lên rừng
Lòng ta đã rất đỗi băn khoăn
Có một điều gì khiến ta linh cảm…

Các con sẽ không bao giờ quên
Đã cùng sinh ra trong một bọc
Một trăm trứng
Một trăm con
Các con sẽ không bao giờ quên…

Hãy tha thứ cho nhau- tha thứ hết
Rồi nắm tay cùng gầy dựng lại quê hương…
(Tâm Sự Lạc Long Quân)

Bạn ơi, lời ước nguyện này trải qua mấy mươi năm vẫn tươi rói hiện thực tình cảnh quê hương chúng ta. Mảnh sao băng kia đã thành bụi hư vô rồi mà chưa thành tựu được một ước mơ tưởng là rất dễ dàng đối với những đứa con sinh cùng một bọc Việt Nam này! Trái tim người thơ ấy đã thổn thức gần nửa thế kỷ, và vẫn còn theo thời gian,
… Lịch sử sẽ ghi bằng những lời nói dối
Mặc kệ – chúng mình thương nhau

Cho anh, tôi dám nhìn vào mắt nhau
Không một ai cúi mặt

Nếu anh vẫn một mực chối từ
Và nhất định đòi cho tổ quốc một chiếc áo màu -dù xanh dù đỏ-
Hay khoác một định nghĩa -dù trắng dù đen-
Tôi đành nhặt một cọng cỏ rất xưa về làm tổ
Rồi khóc trên đó
Loài chim bỏ đi
(Tổ Quốc)

Nhân bản làm sao và thương cảm làm sao nỗi bé mọn trước tình yêu được gói vào tựa đề là Tổ Quốc. Thân phận khốn khổ nên lớn mãi mộng mơ, ước nguyện. Nên mới có Tình Người. Tác phẩm này theo tôi là một dấn thân của tác giả vào thời cuộc, biểu lộ một thái độ, nhân danh Con Người. Trong đó tôi thích nhất bài này,
Tôi cho mấy người mượn
Con đường độc nhất về quê nội
Để thử những quả mìn mới

Tôi cho mấy người mượn
Những nhà hàng phố xá đông đúc
Để thử lựu đạn, plastic,

Tôi cho mấy người mượn
Cửa nhà vườn tược ruộng nương
Để thử sức tàn phá của bom

Tôi cho mấy người mượn
Tuổi trẻ căng đầy nhựa sống
Làm bia thử vũ khí cá nhân

Tôi cho mấy người mượn
Ông già bà lão con nít thiếu niên
Để thử các chính sách chăn dân cai trị

Tôi cho mấy người mượn
Khối óc linh hồn
Để thử thuốc nhuộm đen nhuộm đỏ

Tôi cho mấy người mượn hết rồi đó
Xin dành lại cho tôi
Những nỗi căm hờn
Và tấm lòng độ lượng rất đông phương
(Cho Mượn)

Tôi trích trọn bài này để thấy được tất tật vốn liếng của người đã cắn răng cho mượn. Rộng lòng hay cam chịu hàm nỗi bất lực? Hỏi tức trả lời. Trước những mất mát và bi phẫn đến nỗi, tự an ủi, thôi thì coi như cho mượn! Và lịch sử cho chúng ta thấy, không lạ gì thói quịt nợ của những tên phú hộ. Và chàng, và chúng ta chỉ còn, chí ít, nỗi căm hờn thường tình. Nhưng, diệu kỳ thay, lại không thường tình chút nào, một tấm lòng độ lượng rất đông phương! Đúng là Đỗ Hồng Ngọc mà ta thấy trong những tác phẩm sau này lấp lánh bóng một thiền giả. Khởi đi từ thời gian viết bài thơ này mới hiểu vì sao mỗi ngày ĐHN mỗi cống hiến những tác phẩm đầy lòng nhân ái, vì người và thương người đến vậy. Và tôi đã nghĩ, cho đến ngày hôm nay thì chắc chắn trong ông không còn “nỗi căm hờn” nào nữa mà lồng lộng cái Đông Phương nhân bản kia. Mặc kệ tất cả, miễn là chúng mình thương nhau, ơi anh em ngọt bùi một bọc… Tôi muốn nói lại lời mà ông đã viết gần nửa thế kỷ trước, Hãy tha thứ cho nhau- tha thứ hết / Rồi nắm tay cùng gầy dựng lại quê hương… … Chợt nghe tiếng thì thầm sâu ý nghĩ / Bàn tay gầy làm dấu quê hương /…
Nhưng để kiếm một tha thứ, để quên đi, sao khó đến vậy? Hết nghiệt ngã này đến khác buộc vào cái quang gánh ốm o chữ S những oan cừu. Nên chàng và những ai kia, cứ mãi lang thang trên nghìn dặm trái tim để nhặt nhạnh những nhịp yêu thương…
Trong tập này còn có một bài thơ khác của ông, rất nổi tiếng, Thư Cho Bé Sơ Sinh, được trích dẫn và nói đến rất nhiều, mỗi người nói một chút, niềm hân thưởng của mình về nó, khiến bây giờ tôi nói một chữ nào thêm nữa thì cũng lọt vào một ý đã nói rồi, thế nên, chỉ biết nói, a, tôi cũng thích bài đó như bạn vậy. Tôi thích hình ảnh tiếng khóc của bé sơ sinh và cái cười của ông mụ (xin lỗi bác sĩ) “Vì từ nay em đã phải cô đơn. Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ…” Tôi thấy ở đây ẩn trong tình cảm thiêng liêng -qua những việc làm đón em bé ra đời- là nét nhìn dí dỏm về thân phận con người. Một tâm hồn mẫn cảm và lạc quan. Nhà phê bình văn học Huỳnh Như Phương khi viết về bài thơ này đã nói “Thật kỳ lạ, ở tuổi 25, Đỗ Hồng Ngọc tự đặt cho mình một cột mốc thơ ca mà chính ông không dễ gì vượt qua. Ni sư Giải Nghiêm có lý khi cho rằng nhiều bài thơ và bài viết của Đỗ Hồng Ngọc về sau này dường như là một sự nối dài Thư Cho Bé Sơ Sinh”** Tới đây thì xin thưa với Nhà Thơ Lữ Kiều, ông nói về bạn ông, ĐHN là một người nghiêm túc, tôi muốn thêm, một người mơ mộng nghiêm túc, một người yêu đời nghiêm túc. Một cây viết nghiêm túc giản dị. Thế cho nên, mỗi khi nói chuyện, email với ông hay nghe ông trên những diễn đàn, cái nghiêm túc ấy không làm nặng nề mà luôn đem đến những tiếng cười thoải mái ý nhị, những vui vẻ nhẹ nhàng.
Trên nghìn dặm trái tim ấy, tôi sững sờ đến đau mênh mang, khi nghe bật lên những tiếng đập như từng tiếng đàn đang dồn dập bỗng đứt phựt. Đó là những bài thơ về La Ngà, đứa con gái yểu mệnh,
Con đã lớn lúc nào mà ba má không hay
… Ba dạy con ca dao trước khi học chữ
Con làm thơ trước khi biết nói
… Ba má nhìn con lớn lên
Thấy mình nhỏ lại
… Con đã lớn lúc nào mà ba má không hay
Cứ tưởng con còn nhỏ xíu
Đến khi con mất đi rồi
Mới biết con đã lớn
(Con Đã Lớn)

Trước mộ con còn ướt
Ba nói với bè bạn ba rằng
Từ nay hãy yêu con mình cách khác
Đừng như ba
Giấu kín trong lòng
Bởi tình yêu có bao giờ cho đủ
Có đâu sợ dư thừa…
(Tình Yêu)

Ba viết trăm lần lý lịch
Cứ mỗi lần viết đến tên con
Ba lại ngẩn ngơ
Như một kẻ mất hồn
Biết trả lời sao
Câu hỏi
Hiện con đang làm gì?
Ở đâu?
(La Ngà 2)

Ba dạy con
Mỗi ngày
Một chút
Không bài học nào
Như ba đã học
Từ con:
Nỗi mất
(La Ngà 5)

Hồi đó khi đọc xong những bài thơ này, tôi nhìn hai con mình như nhìn vào kho báu. Tôi biểu lộ một cách sôi nổi hơn tình yêu ấy, với chồng, với con, với gia đình bạn hữu quanh mình, như thể, họ hay chính mình sẽ mất đi bất cứ lúc nào, trước khi kịp làm điều gì đó cho nhịp tim nhau biết được niềm thiết tha, trọn vẹn.
Dường như tôi đã nói được điều tôi muốn nói từ lâu, với Nhà Thơ Đỗ Nghê. Điều đó nếu nói gọn, là hai chữ Hàm Ơn, những cảm xúc tôi có được khi đọc văn thơ ông.
Và ngay lúc này, khi tuổi đang vào lúc đi xuống đồi ngắm mặt trời hoàng hôn, qua những đớn đau bệnh tật, tôi tập tành tu dưỡng, đến với Thiền Và Sức Khỏe***, để học biết được Thiền định qua cách thở. Đến với Nghĩ Từ Trái Tim***, xem thiền giả kia lắng nghe mình ra sao sau khi qua đường ranh sống chết, và trái tim đã mở con đường dẫn người đến Tâm Kinh Bát Nhã. Ngẫm nghĩ rồi nghe ngóng. Nghiền ngẫm rồi ngập ngừng.**** Tôi hình dung được nỗi miệt mài tìm hiểu nghiêm túc này. Và đó là điều cần để đi vào hành trình gian nan ấy. Cái gian nan tủm tỉm một mình… thiền hành mỗi phút mỗi giây. Cũng như những lúc say đọc Gươm Báu Trao Tay. Viết, luận về kinh với một văn phong như thế thật đã kéo được người đọc ngồi lại với mình để nghe như to nhỏ chuyện trò. Ông dùng hình ảnh trong Chinh Phụ Ngâm, Chín tầng gươm báu trao tay / Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh… ví von thanh gươm báu Kim Cương trao cho người thiện tâm để truyền bá đạo giải thoát chặt đứt mọi khổ nạn kiếp người *****. Với những sách như thế đâu chỉ đọc một lần.

Có một ngẫu nhiên hết sức vui, vừa mới đây, vợ chồng em gái Khanh Minh &Wayne mời vợ chồng tôi một chuyến cruise nhân tôi vừa khỏi bệnh, em gái viết, chị nhớ đem quần áo đẹp, rực rỡ để ăn tối. Tôi tần ngần trước tủ áo, rực rỡ là thế nào đây. Chọn bộ cánh để đi dạo công viên, đi ra ngồi quán cà phê với bạn văn chương thì dễ, mình sao mặc vậy rất không suy nghĩ gì, nay nhỏ em bảo phải rực rỡ, thiệt tình… suốt buổi sáng không quyết định được gì, lúc nằm nghỉ, thường theo thói quen, khi nằm xuống giường tôi hay lấy không định một cái gì đó để đọc, tôi vớ tình cờ ra cuốn Những Người Trẻ Lạ Lùng***, và lật ngẫu nhiên, trang 58, có những dòng này, …Ở cái tuổi chín muồi đó, người ta không chỉ biết quan tâm đến mình, mà quan tâm đến những xung quanh, đến tại sao, ai đó, ở đâu, lúc nào…, nghĩa là đến phần hồn kia, người ta biết tìm cái vượt trội hơn những phù phiếm tàn phai…
…Chính cái tuổi chông chênh đó của người phụ nữ, cái tuổi có những cột mốc thì thầm, tuổi chuyển mùa như lá trên cành, từ cái bồng bột sôi nổi, sang cái nền nã dịu dàng, giản dị mà sang trọng…
Tôi bật cười la lên A! Ngẫu nhiên như thể, tôi đang thắc mắc, và có người anh ở cùng nhà, vừa kêu anh ơi, là đã nghe được cách đối phó. Vấn đề của tôi lúc ấy chẳng có gì là đao to búa lớn, chỉ là… và tôi đã biết cách chọn những bộ nào, phải rồi, chỉ có “nền nã” mới trụ được bên cạnh “rực rỡ”. Ông Đỗ Hồng Ngọc này! nói đủ khía cạnh trong cuộc sống mà ta phải chạm đến, ngoài thơ, kinh sách, y học, tâm tình chuyện đời, còn có cả, Thời Trang.
Có phải lang thang qua nghìn dặm Trái Tim mà chàng có được cái lịch duyệt đôn hậu đến thế?
Nguyễn Thị Khánh Minh
Santa Ana, Tháng 4. 2015
(bắt đầu viết sau khi mổ tháng 4. 2014, cách một thời gian viết tiếp)
*Năm 2013, tôi được Nhà Thơ ĐHN tặng một tập thơ được chúp lại, tập Tình Người- Thơ Đỗ Nghê- Bìa 4 có những dòng in: Tác giả trình bày. Bìa Lữ Kiều. Hình Cocteau. Ấn hành giới hạn dành cho bạn bè và anh em. Năm 1967.
**Huỳnh Như Phương- Thơ Đỗ Hồng Ngọc: Ẩn Hiện Giữa Cuộc Đời (Trong phần Phụ Lục tập thơ Thư cho Bé Sơ Sinh Và Những Bài Thơ Khác…)
*** Tên những tác phẩm của Đỗ Hồng Ngọc
**** trích trong Lời Ngỏ, Nghĩ Từ Trái Tim
***** trích trong trang 5, Gươm Báu Trao Tay

Source: PHAM CAO HOANG (http://blackhorseva.blogspot.com/2015/05/131-nguyen-thi-khanh-minh-o-hong-ngoc.html)
Handing down the Precious Sword (Gươm Báu Trao Tay) 4-6
Posted: 13 May 2015 05:20 PM PDT

Handing Down the Precious Sword (Gươm Báu Trao Tay)
Tác giả: Đỗ Hồng Ngọc
Người dịch: Giao Trinh Diệu Hạnh
4. That is the way it is but it does not appear so.
 
Once we understand “beings are not beings, therefore they are called beings,” we thought we held the password to enter the Diamond Sutra vaults, but that in fact is not the case, because that it the way it is but it doesn’t appear so.
Let’s revisit the previous episode during which the “precious sword” was being handed down. Seeing scores of people in amazement by his beyond-the-thinking language, the Buddha asked “Why is that?” Then he affirmed: “Because if a Bodhisattva still holds on to the arbitrary illusions of form or phenomena such as an ego, a personality, a being, or a life , then that person is not a Bodhisattva”.

Once again I was dumfounded! I expected an explanation from the Buddha, but what he said seemed to be of no relevance to what was said previously. May be there is something mysterious here.
Initially, I thought about the first, second and third person in singular and plural in the past, present and future as in the grammatical verbs conjugation in order to mark the relativeness between the self with the others, with time and space, but it seemed that was not the way it is! Then I thought that it might be a 3-dimensional chart and a curved line representing the time on which each individual affirms his present status in society, his connection with other “beings” at a certain point, but that still was not right either! What was it then? It took me a long time to realize it: That is the no-self state of a practitioner on his way toward liberation! The practitioner must “meditate on the emptiness of the five aggregates” (skandas) – the true no-self – in order to “overcome all ills and sufferings” [The Heart Sutra].

But he must first overcome all ills and sufferings for himself, then be able to help others to be a worthy Bodhisattva. So this is a compulsory, necessary condition in order to…
This “no-self” doctrine is rather elusive! Even if it is possible to use logic, philosophy of interdependency, of emptiness to understand the meaning of “no-self”, but it is only the result of a theoretic, conceptual body of knowledge. Here, the no-self is a state, a realm that the practitioner can perceive through a long and consistent practice, the meditation!
Meditation exists from time immemorial. When prince Siddharta was still very young, he would sit shaded under a tree to observe the laborers in the distant paddy fields, and unknowingly attained the first dhyana state.
Later, on the path of enlightenment, he studied under two of the foremost meditation masters of his time, and in a short time mastered the 8 dhyana absorptions up to the “neither perception-nor-non-perception” stage, but still did not find peace and yearned to search for a path to call his own, so he left them! It was only when he attained the ninth dhyana realm “the absorption of complete extinction of sensation and perception” that lead to the stage of “all-knowing”, to the “Buddha-hood” in which every delusion vanished. In other words, the dhyana “extinction of sensation and perception” is the only remedy to heal all inflictions and sufferings at their roots, while the previous process only treated the symptoms superficially as and where it was needed and cannot prevent the recurrence of diseases. To treat a disease at its root is to heal it thoroughly, without any risk of recurrence or post-treatment sequela.
The term “extinction” in “dhyana of extinction of sensations and perceptions” does not mean “extinguish (annihilate)” them but prevent them from development further. Destroying a tumor is not as good as preventing it from developing in the first place. Prevention is better than cure. In short, to be worthy of being a Bodhisattva, one must successfully endure this path. In other word, a Bodhisattva must thoroughly “deeply practice meditation” to attain the no-self state. He must relinquish all attachment to the illusions of form or phenomena such as an ego, a personality, a being or a life-span. He must also relinquish all discrimination, all seizing – then he can serenely stroll into the bustle of the market place of the world, immune to any affliction, without fear of being contaminated.
Fortunately, if we listen carefully, we will hear that the Buddha instructed Subhuti very precisely “The Great Bodhisattva should subdue their mind in this way”. All the Great Bodhisattvas have practiced in “that way” to control their minds. As for…“rookie” or lesser Bodhisattvas… please do not be in a hurry. We still must take steps, have patience, strive diligently and persevere … the enduring paths ahead!

“The Buddha told Subhuti”, as a reminder to all who wish to join the Bodhisattva’s path that they cannot allow themselves to skip meditation. Without meditation (or concentration) it is difficult to have wisdom. The ethical disciplines lead to concentration, concentration to wisdom, and vice versa. It is an equilateral triangle with two directions: onward and backward. In my opinion, ethical disciplines, concentration and wisdom are specific antidotes for greed, aversion and delusion; the ethical disciplines to counter greed, concentration to counter aversion and wisdom to counter delusion. If we only treat the symptoms… the disease will not be eradicated, it will recur with sequelae risks. So, in order to eradicate it and cure it thoroughly, one must combine the three remedies to foray the disease on 3 planes. If one focuses too much on concentration, one tends to be out of touch with the real world; on ethical disciplines, one tends to be too intransigent, too rigid; and with an imbalance of wisdom, one tends to brag…
In spite of this, these three healing drugs must be dosed according to the patient’s need. The “aversion type” tends to be over sentimental, easy to love, easy to suffer…
[In the case of]:
When injured, one keeps the arms
Refusing to be healed, to be cures of the poisonous inclination…
Rồi bị thương, người ta giữ gươm đao
Không muốn chữa, không chịu lành thú độc.
(Xuân Diệu)
We parted even before our meeting
My soul follows your shadow…
Chưa gặp nhau mà đã biệt ly
Hồn anh theo dõi bóng em đi…
(Hàn Mặc Tử)
then these situations are best treated by meditative concentration.

Intellectuals who always tend to accumulate and squirrel away information, proud of their “book knowledge”, are best treated firstly by wisdom in order to counter their symptom of delusion. When enlightened by wisdom, one naturally knows that one needs ethical disciplines and meditative concentration as well. Among the three remedies, meditative concentration is the most fundamental. Only by meditation can one attain the “no-self” state and the dhyana of “extinction of sensations and perceptions”, to stop discriminating and be attached to things. Lao Tzu said that enlightened persons always seem somewhat guileless, and that is because they are now different, free from all passions and have attained the perfectly content seclusion or no-rebirth state.
If in his first lesson the Buddha taught that we should eat when hungry and drink when thirsty, in order to emphasize the “ethical discipline”, then this second lesson emphasizes the “meditative concentration”. From the passage: “Then the Buddha addressed the Venerable Subhuti” … to “is not a Bodhisattva” there is a consistency in the meditative process from the sphere of desire, sphere of form and then non-form. Then one must overcome all these too, to eventually attain the dhyana of “Extinction of sensations and perceptions” which is also called the ninth dhyana absorption.
It is like a perfect exchange of martial arts sword play, movements intertwined with harmonious and unbroken transitions from visible to invisible, like trancelike flowing water or chasing clouds, until all but the essence of the art of sword remained; the performers and their moves also disappeared… and that is the ultimate move. At that moment there is no more object nor subject, when the herd as well as the herdsman cease to exist. One must experience this! Not just talk about it. That is what the Buddha taught.
Of course there are many other layers of meanings to experience before one can discover oneself. This is what is called the “infinite meanings” in Buddhist scriptures. The handing of the Precious sword symbolizes the capacity of going beyond convention and constraining. If we are still clinging, or still hold on to any fix meaning tight, then we still are dependent, stuck… how can we attain the mental state of that mind without dwelling anywhere?
Lệnh Hồ Xung’s “sword destroying tactics” in the “Độc cô cửu kiếm” (Technique of combatting alone using 9 swords) defeated 15 trained swordsmen who besieged and outnumbered him. If he used the “No More” technique (vô chiêu thắng hữu chiêu), imagine how more awesome it would be! The way towards destroying the move is only a simple step toward the technique “going beyond convention and constraint”. One day we shall be able to perceive, to discover and to be “aware” to much more layers of meanings. The important thing is to practice, to discover through experience. Only then, will we be able to understand what means “unutterable” (impossible to explain) and “unfathomable” (impossible to comprehend), where even language is not of use!

 
5. The third eye
 
Seeing that Subhuti and other participants of the assembly looked somewhat complacent with the knowledge how to subdue their minds, the Buddha hurriedly called out: “Furthermore, Subhuti…” and so startled everybody. Why, furthermore? The teaching is not yet over? Are there still important things to be learned? Yes, there are. “Furthermore, Subhuti, as to Dharma, a Bodhisattva should not dwell anywhere when he practices the virtue of giving”.
Once again I was dumfounded! As to Dharma? Which Dharma? What does it mean “not to dwell anywhere when practicing the virtue of giving”? Why in the middle of a conversation about bringing beings to extinction or on aloof subjects such as meditation, no-self, the Buddha suddenly jumped into problems of giving and begging, clothes, food and money?
While reading the scriptures, we are easily confused by the term “Dharma”. It can mean a way to do things, a method, but also is one of the 6 objects of the senses: form, sound, smell, taste, touch and dharma (phenomena). Here, this word means method. There are 6 methods of training to help become a Bodhisattva which are called the 6 paramitas (Vertues perfected to the level of transcendence): the Perfection of Generosity (Dana Paramita), the Perfection of Ethics (Sila Paramita), the Perfection of Patience (Kisanti Paramita), the Perfection of Joyous Efforts (Enthusiastic perseverance) (Virya Paramita), the Perfection of Concentration (Dhyana Paramita), and the Perfection of Wisdom (Prajna Paramita).

The perfection of generosity ranks first among the 6 paramitas. To give is the easiest act to perform, anybody can achieve it, but it is also the hardest, the toughest ordeal by anyone’s standard.
Concerning Subhuti’s two questions, how to quiet and how to subdue one’s mind, the Buddha first taught how to subdue it. To quiet it is more difficult, it will be taught later. It’s obvious that the mind is like a restive monkey, a crazy buffalo or an unruly horse. If it is not tamed first, it would be impossible for it to rest. To tame an animal means to control or to conquer it, and when it is overpowered, one can make it “quiet”. One can even send it to an uninhabited island or a deep forest, like shooting crazy elephants in former times with anaesthetic arrows in the Tánh Linh (Bình Thuận) forest so as they can be sent to Daklak to be tamed and pacified, and why not be taught to do something useful?
It is not difficult to subdue the mind but it is the basic, ineluctable step. Ethics and concentration should be enough. Ethics and concentration were familiar to all the persons who took part in this ceremony of Sword Handing, some of them were even “titled”! But why the mind is not yet at peace? Why it is still restive? Because the sedative [on the arrow point] was not strong enough, and the disease [restlessness] was not yet eradicated. It must be combined with a more powerful specific, and that is Wisdom. Ethic and concentration without wisdom are insufficient, the illness would still is at risk of relapsing. The same would happen if you try to subdue without quieting your mind.

You want to quiet your mind? It’s easy! Do not let it dwell anywhere and that’s it! To be quieted, a mind must not dwell anywhere! What a curious thing to say, but so wonderful! One must have an “empty mind”. “Facing the world with a mind that is empty, what use is Zen?” (Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền) (said Trần Nhân Tông).
To have an empty mind doesn’t mean to abandon or to be indifferent. No. The king Trần Nhân Téng had left his kingdom to become a monk at the Mount Yên Tử, but when the Chinese Nguyên army invaded his country, the monk wasn’t indifferent and didn’t leave the matter alone. He immediately descended the mountain, made military strategies and contributed to repel the aggressors. He manifested his “empty mind” by, once the war was over, washing his hands to resume his monastic life in the mountain. To be quieted, a mind must not dwell anywhere, be placid, be empty. It is as simple as that. The six Zen patriarch Huệ Năng had eavesdropped just one sentence and attained the Great Enlightenment, but why are we still embedded in ignorance? Because we are still clinging to things, accumulating them instead of letting go, forsaking or giving them away!

The Buddha still made it clearer: “Not dwelling anywhere” means that a bodhisattva should not dwell in forms when he gives, nor should he dwell in sounds, smells, tangible objects or dharma. In short, “not dwelling in forms”. To dwell means to rely upon, or to be stuck, caught up in. If one is caught up, stuck in or rely on forms while giving, one is not truly giving. If one give while being acutely aware that there is someone who gives and another who receives, that one is likely to appear on a TV show in order to launch one’s good name or to impress others, to “invest” in getting fame, benefits or even merits, then one does not truly give. The genuine way of giving is to do so without expectation, heedless of a giver, a receiver or of the given object. This is the “unattached to forms” way of giving, uncalculated way of giving, which brings …real happiness.
The poet Bùi Giáng said:
We spend our entire life painfully measuring and assessing,
Wearing out our knees by standing up and then sitting down…
(Một đời lận đận đo rồi đếm
Mỏi gối người đi đứng lại ngồi)
The way of giving preconized by the Buddha in order to access to Wisdom is the kind of “gate, gate, para gate, parasam gate” way, crossing to the other shore way, or the paramita, the perfect way of giving.
The Chinese pictograms are real fun. The pictogram “wood” (木), object of the sight, combined with the “eyes” (目), one of our 5 sense organs, will yield the word “form-appearance” (相). Until then, nothing goes wrong. But if the pictogram “mind” (心) is added to this character, it becomes 想 “perception, conception”, and from there troubles begin to arise! That is why it is said that the mind creates everything! So to subdue, to quiet the mind is of the utmost importance.

The new practitioners would look out for high mountains or deep forests to avoid seeing or being involved with worldly matters, in order to separate their minds from forms. They shun the world, cut themselves from world (but do not quit the world) in order to skip troubles or confusion. The awaken ones just light heartedly stroll around in the world like the character Đào Cốc Lục Tiên in a Kim Dung’ martial novels who was a bit soft in the head, and so used to be bossed about but changing every moment, sometimes behaving as an erudite, other times as a crazy, noisy quarrelsome individual. But when the brothers Lệnh mastered the genuine Dịch Cân Kinh, they were no longer scared of Đào Cốc Lục Tiên and became his bosom friends!
It is easy to fathom the depth of a river or a sea, but never judge a book by its cover. It looks like that, but it’s not that. To rely on “forms”, one is doomed to disappointment. The Buddha gave a specific example to explain this.

The Buddha was said to have 32 marks, then whoever has 32 marks can be called a Buddha? How many times Đường Tam Tạng misjudged people in this way! Even Trư Bát Giới and Sa Tăng were so often busy bowing down and worship the Devil!
But not the old Tôn! Bestowed with a third eye, he only needed to open ferociously his eyes to see beyond forms and take hold of people’s inner selves or their true nature! The Buddha repeated endlessly: “Don’t see me by forms, don’t follow me by sounds”! Nowadays people are cheating each other a bit too… frequently. The crafty swindles the naïve one. Advertising is sweet to the ears, marketing is pleasant to the eyes. At time, it is advisable to widely open one’s third eye!

The point is “giving without fixation on appearance, without dwelling on [the giver, the receiver and the act of giving]”. It is not about “not giving”.
Giving must be, needs to be maintained and still is necessary. “If you cannot feed one hundred persons, then just feed one of them” (Mother Theresa). One should give in the way that brings happiness to everybody, freeing them from anxiety and fear. This is this way of giving that the Buddha entrusted the Bodhisattva to teach this sutra to others, even with just “one stanza of four lines”.

Such is the “Perfection of Generosity” and the other perfections are likewise. “One must not dwell on anything while giving”, then one must not dwell on anything while practice the perfection of Ethics, not dwell on anything while practice the perfection of Forbearance, etc… One should not be attached to, nor seize upon anything not only while giving, but also when holding precepts. It is not easy! Because it is not easy that one must practice and train oneself for a long time!
6. A mind of no place to dwell on…

Once I asked a monk “Does the sentence “to dwell nowhere to generate a mind” is the most wonderful one in the Diamond Sutra?”, he gently answered “no, in the Diamond Sutra, every sentence is wonderful!”.
Indeed, I gradually realize that every word in the Diamond Sutra is wonderful, and they seem to be more and more so, above all… when they are, as Edward Conze said, applied to our everyday life. The way they were written and expounded is precise and closely woven, convincing and, in brief …attractive! I have been attracted to the Diamond Sutra as previously was attracted to the Heart Sutra. It seems that the Heart Sutra – a discourse addressed to Sariputra (the Buddha’s disciple foremost in wisdom and insight) was an ultimate answer to the “why”, with a theoretical outlook; as to the Diamond Sutra, expounded to Subhuti (the Buddha’s disciple foremost in Emptiness understanding, formerly quick tempered and irascible but now excelled in pure conduct and in being free from all passions), was meant to answer the “how” in order to guide the practice. These instructions obviously were aimed at the Buddha’s great disciples or at the monastics and not at us, so… small wonder if we are puzzled, bewildered or confused. However, being puzzled, bewildered or confused has its good points.
Thanks to these states, we’ll strive to penetrate, to discover and take part in the process of brooding on or experiencing what we are studying, and if it seems trustworthy to us, we can apply it in our daily life in order to solve countless of our inflictions or entanglements. Isn’t that nice? For example the sentence “to dwell nowhere to generate a mind” is well known to everyone, and everyone mouths it as a mantra when they need some… comfort, or when they are wearied, grieved. It was also the sentence that the 6th Patriarch Hue Nang had eavesdropped more than 1000 years ago and attained the Great Enlightenment, so it’s worth our serious pondering isn’t it! Do not dwell anywhere to give rise to a happy, joyful, contented mind, free from “all ills and suffering”. Is it really so?
Don’t dwell on anything. Dwell on nothing? Hum… that seems reasonable! When I watched a football match of two unfamiliar teams, I praised and enjoyed every fine goals or shootings, but if one of those teams happened to be “mine” (if I am their fan), then I’d be anxious, put out and annoyed with each shot, each player or referee! I’d curse, bellow or shout out then gloat over the success of my team, or grieve or bemoan if it lost the game. I’d have no desire to eat or to sleep because of that beloved… wretched team!
Two Zen students met a young girl at a deep bend of a river, and she was embarrassed, not knowing how to cross it. One of the student took on him to carry her on his back and crossed the river. On their way back to the temple, the other monk asked:
– How come that a monk can be so rash as to carry such a beautiful girl on his back?
– Dear me! I put her down long ago, why is that you are still carrying her?
There are many ways to carry. To carry a girl on one’s back is one of them, but to carry her in one’s mind is another. The girl was put down but the tantalizing thought of her still lingered on, may be would follow us well onto our dreams! The first monk saw a girl as a girl that needed help, so he helped her. But the second monk saw a … beautiful girl, worriedly wondered if it was proper to help her, if he’d thus break the rules, and who know, maybe he sadly wanted to know if it was the “fate” that brought them together! The longer one carries the wearier one feels, and the sooner one gets a hunched back. But it’s far from easy to put down! The younger sister Nghi Lâm (in one of Kim Dung’s martial novels) had carried the injured elder brother Lệnh Hồ just once but for a long time afterwards still carried him in her mind! Therefore, it is not easy to “Generate a mind that should not dwell anywhere”!

The Buddha taught that if one wants to “dwell on nowhere”, one must discard the forms, drop out all the complicated outward shows or go beyond the phenomenon’s appearance to reach the true nature inside. Discard all appearances and you are qualified to be called a Buddha. “If you can see that all forms are formless, then you’ve perceived the Tathagata!” But how to “discard”? Many go to seek refuge in caves on the mountains to discard worldly things! But they are not at peace because their minds are still disquieting. Clearly the point here is not to flee, because how can one run from one’s mind when it is all but pacified? But once it is, where is not a refuge, a cave? So one can say that if one can manage to “discard the form” from the outside to the inside, one achieves quite a transformation from quantity to quality.
“Therefore Subhuti, all Bodhisattvas, lesser and great, should develop a pure, lucid mind, not depending on sound, flavour… A Bodhisattva should develop a mind which alights upon nothing whatsoever; and so should he establish it!”
This is the way, Subhuti, the way in which Bodhisattvas must work to have a pure and lucid mind. Which way? He must leave behind all forms, and no longer discriminate ego, personality, being and life span! He must discard all kinds of phenomena and avoid being blinded by or tangled up in words or concepts, like an enmeshed fish, no matter how much it struggles, it cannot escape from the net! The great Bodhisattva practiced the virtue of giving in a new way: they gave without attachment; they practiced the virtue of discipline, the virtue of forbearance in a new way, and of course they attained a new kind of insight, in the prajnaparamita way: gone, gone beyond, gone altogether beyond!

It is said in the Vimalakirtinirdesa Sutra that once, in a gathering of Bodhisattvas, they were showered with flowers, like nowadays people throw confetti at their idols. Most of the persons present were covered with flowers, except the Great Bodhisattvas. Remember: the Great Bodhisattva! As for… incipient or lesser Bodhisattvas, it does not matter if they have a few confetti stuck on their persons. They can take a while to get rid of them. No need to hurry. The Diamond Sutra packed this in few but very eloquent sentences: Great Bodhisattvas are those who really have nothing to obtain, nothing to do. The word “really” can startle us. They understood that the Buddha’s teaching was the raft which allowed them to cross the river, and the Buddha’s finger helped them to see the moon, but was not the moon itself. In short, they did not dwell anywhere altogether, nor were they caught up anywhere. They have nowhere to dwell anymore, except the carefree, unimpeded state: [that of] the Bodhisattva Avalokiteshvara, the Bodhisattva of Carefree Observance…coursing deeply in the Prajna Paramita…!
“Facing the world with a mind that is empty, what use is Zen?” (Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền). The Trúc Lâm Zen school patriarch had mentioned about this empty mind some 700 years ago and the 6th patriarch Huệ Năng, more than 1300 years, had also broached the notion of “no thought” or “beyond the thinking”.
It is obvious that empty mind does not mean blank mind, no more than no thought means without any thought. Both terms in fact only describe a clear, pure, impartial and not clinging, grasping mind. Trần Nhân Tông still descended from his mountain to repel the Yuan army’s invasion, and after defeating them, went back to it to resume his monk life, free of all clinging. As for Huệ Năng, after enlightenment, still mingled with hunters during several decades to train himself and to help others. Therefore, one can generate a mind, so long as it is a good, beneficial one to oneself and to others. “Do not generate a mind that dwell somewhere” also means “Do not dwell anywhere but… do generate a mind”! There is no point in extinguishing it, destroying it or eradicating it and turn impassive as pebbles and stone or into an absolute half-witted! And “Later on, even pebbles and stones still need to be together!” (Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau) as said Trịnh Công Sơn.

Subhuti asked eagerly: “World Honored One ! What should the sutra named? How should we study and hold it?”
The Buddha said: “This sutra name is Vajra Prajna Paramita!”
But it seemed that after saying this, the Buddha gave a start: “beware, they would cling to [the name] and be done for!” So he went on “Prajna Paramita is not Prajna Paramita therefore is called Prajna Paramita!’

(continued)
Quán Văn 30: NGÀY CỦA MẸ
Posted: 13 May 2015 03:25 AM PDT

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6138
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bài gửi  phannguyenquoctu on Sun May 17, 2015 12:16 pm

Nghỉ hè, trẻ nên làm gì?
Posted: 16 May 2015 12:19 AM PDT
Nghỉ hè, đừng tước đoạt mùa xuân của trẻ nhỏ
Ngân Hà

Với những nỗi lo và bằng tình thương rất thật, các bà mẹ ông bố tìm đến bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trong buổi trò chuyện chuyên đề: “Nghỉ hè trẻ nên làm gì?” tại trung tâm ngoại ngữ Eland (TP.HCM), chỉ để củng cố thêm niềm tin rằng: mùa hè, phải cho con đi chơi !
Đó là phía cha mẹ.

Còn con thì sao? Liệu có cha mẹ nào quan tâm đến cảm xúc của con? Thay vì cha mẹ sẽ làm gì cho con, cha sẽ hỏi: Mùa hè này, con muốn làm gì? Ôi trời, đứa trẻ chắc sẽ mừng rỡ. Bởi nó có thể đã tưởng tượng biết bao nhiêu trò ngay từ khi bước vào kỳ thi học kỳ 2. Và sau khi thi xong, điều nghĩ tới sẽ là mùa hè.
Sung sướng quá giờ cuối cùng đã hết
Đoàn trai non hớn hở rủ nhau về
Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê
Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ
Một bài thơ Nghỉ hè của nhà thơ Xuân Tâm viết từ năm 1941, đến nay vẫn tràn đầy cảm xúc. Và cho đến nay, tất cả các đứa trẻ của thế kỷ 21 cũng vẫn mong được chín mươi ngày ấy dù sự thật là chúng đã bị tước đi rất nhiều ngày.

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã viết lại một câu chuyện cổ tích Giếng nước mùa xuân, kể về cậu bé ốm yếu bệnh tật, có người cha giàu có nhưng không thể chữa bệnh cho con, nên tìm đến vị thầy trên núi nghe nói đang sở hữu một cái giếng thần kỳ. Dòng nước mát trong của nó có thể chữa bách bệnh. Đến nơi, vị thầy nói rằng giếng nước đang cạn, cần phải chờ khơi nguồn. Vì quá thương con nên ông trọc phú chấp nhận điều kiện của vị thầy sẽ để con trai mình ở lại, còn mình thì về tu nhân tích đức. Thay vì trước kia ông chỉ biết kiếm lợi từ mọi người, giờ ông sẽ chia sẻ lại cho những người kém may mắn.
Mỗi sáng vị thầy cho cậu bé ra sân tắm nắng, chạy nhảy và trồng cây, tưới nước… chẳng bao lâu, cậu trở nên rắn rõi và nguồn sức sống từ trong chính cậu đã tuôn trào. Khi người cha đến đón con, ông không nhận ra chàng thanh niên rắn rõi ấy chính là con mình. Lúc này, người thầy mới nói, chẳng có giếng thần nào cả, mà giếng nước mùa xuân ấy ở chính trong con người mình, nếu mình không biết khơi nguồn.
Đó là một trong bảy câu chuyện BS Đỗ Hồng Ngọc viết lại và tập hợp thành một bộ tranh truyện có tên Có một con mọt sách xuất bản đầu tháng 5. Và cũng là những lời gửi gắm của ông đến các bậc cha mẹ hãy để cho con mình được nghỉ, được chơi, được sống hòa cùng thiên nhiên thay vì đưa con đến những cái “hộp” lớp học suốt cả mùa hè.
Phần lớn các phụ huynh đều thắc mắc nếu cho con học đàn, học vẽ, học võ, học bơi, học múa… có học quá nhiều? Hay giữa môn võ và bơi, môn nào chọn cho con mình. Con gái có nên học võ từ lúc nhỏ vì sợ xương to người thô hay không… Câu trả lời: tất cả các môn học, từ ngôn ngữ đến kỹ năng, nên để cho trẻ học từ sáu tuổi. Dưới sáu tuổi chủ yếu là chơi để nhận biết và làm quen với những gì đang diễn ra trong cuộc sống. Cũng cần phải cho con chọn lựa điều nó thích, và trong rất nhiều môn học cha mẹ mong mỏi cho con, hãy quy định hai hay ba thứ mà con có thể chọn, cũng là một sự tôn trọng con.
Nghỉ hè cũng là dịp trẻ thành phố về quê, trẻ quê lên thành phố để làm quen với đời sống đô thị. Những câu hỏi như: “Bà nội ơi, sao bà trồng được mấy con gà nhỏ này vậy?”, hay: “Cái trái khoai này to ghê!” nghe ngô nghê buồn cười, nhưng chính là lúc chúng ta dạy cho trẻ đô thị biết phân biệt và sử dụng ngôn ngữ cho đúng. Còn nhớ, trên một chuyến xe đi du lịch, một bé trai tám tuổi đã la lên: “Mẹ ơi, con heo lớn kìa!” và cháu chỉ đằng xa một con trâu đang gặm cỏ. Những hình ảnh thông thường nhất có thể mất dần trong ký ức và thậm chí ngôn ngữ cũng mất đi nếu trẻ không được sống cuộc sống thực. Ngắm nhìn một ngọn núi sống chắc chắn sẽ gây ấn tượng rất mạnh với một ngọn núi dù được quảng cáo là “rất thật” trên màn hình HD của tivi thế hệ mới.
 
Cảnh báo đầu tiên và cũng là xác quyết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đối với cha mẹ đó là bệnh tâm thần của trẻ con Việt Nam ngày càng tăng. Lý do: bị ép học. Càng bị nhồi nhét càng dễ dàng biến thành nỗi đau và biểu hiện nhanh nhất chính là bệnh tâm thần.
Cho nên bạn đừng nỡ lòng nào tước đoạt đi niềm hạnh phúc của trẻ thơ, khi mà nghe hai tiếng “nghỉ hè” thì
 
Một nét mặt trăm tiếng cười rộn rã
Lời trên môi chen chúc nối nghìn câu
Chờ đêm nay, sáng sớm bước lên tàu
Ăn chẳng được, lòng nôn nao khó ngủ. 
Xuân Tâm
(http://thegioitiepthi.net/gia-dinh/nghi-he-dung-tuoc-doat-mua-xuan-cua-tre-nho/)

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6138
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bài gửi  phannguyenquoctu on Sun May 31, 2015 3:07 pm

Thấp thoáng Lời Kinh (1) CÕI PHẬT ĐÂU XA!
Posted: 17 May 2015 10:08 PM PDT
Thấp thoáng Lời Kinh (1)

Cõi Phật đâu xa!

Có người cắt tóc lên núi cao tìm cõi Phật. Có người khoác áo nâu sồng vào rừng sâu tìm cõi Phật. Có người xây chùa to, dựng tượng, đúc chuông lớn tìm cõi Phật… nhưng cõi Phật làm gì có trên núi cao, trong rừng sâu, trong chùa lớn?
 Khi được hỏi cõi Phật ở đâu? Phật trả lời “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát” (chúng sinh chi loại thị Bồ-tát Phật độ). Thì ra vậy. Thì ra cõi Phật của Bồ tát không ở đâu xa. Ở nơi các loài chúng sanh thôi. Quanh ta và trong ta thôi. Đó là những chúng sanh muôn hình vạn trạng, nheo nhóc, khổ đau, chằng chịt, quấn quít, xà quần sáu nẻo luân hồi bay nhảy không ngừng sáng trưa chiều tối, kiếp này kiếp khác, quần quật không an. Bồ-tát chỉ cần “thành tựu” chúng sanh đó, tức thì cõi Phật hiện ra ngay. Không phải tìm kiếm đâu xa. Nhưng thật không dễ. Chúng sanh ngoan cường, cứng cõi, lì lợm ở cõi Ta-bà này không dễ mà hàng phục, không dễ mà trụ lại một chỗ an vui. Nhưng cũng chính nơi cõi Ta-bà đầy gian khó này mới cần có Bồ-tát, và ngược lại, cũng là nơi Bồ-tát hoàn thiện chính mình. Không có chúng sanh cũng chẳng cần Bồ-tát! Cho nên khi Bồ-tát “thành tựu chúng sanh” thì chúng sanh cũng “thành tựu Bồ-tát” vậy.

Ý dẫn các pháp. Nhất thiết duy tâm tạo (mọi thứ do tâm tạo ra). Tâm tịnh thì Phật độ tịnh. Tìm kiếm đâu xa. Hãy quay về nương tựa chính mình. Phật đã chẳng khuyên như vậy từ khởi thủy sao? Cớ sao ta cứ mãi loay hoay, mãi chạy vạy, mãi tìm kiếm đâu đâu? Mấy ngàn năm trước, đệ tử giải Không hạng nhất của Phật đặt câu hỏi: “Vân hà ưng trụ? Vân hà hàng phục kỳ tâm?” (An trụ tâm cách nào? hàng phục tâm cách nào?). Phật nói dễ lắm, dễ lắm, chỉ cần “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (đừng có trụ cái tâm vào đâu cả!) là xong. Nhưng đâu có dễ mà “vô trụ”. Ta hết trụ thứ này thì trụ thứ kia, hết trụ người này thì trụ người khác, chỉ quên… trụ vào chính mình. Nghĩa là… trụ vào cái không của chính mình. Phải. Khi Bồ tát Quán tự tại (tức Quán Thế Âm) hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa một cách thâm sâu thì bỗng bừng ngộ thấy rõ ngũ uẩn đều không: “chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, tức khắc “độ nhất thiết khổ ách” nghĩa là đưa tất cả khổ đau ách nạn đi chỗ khác, tâm trở nên hoàn toàn thanh tịnh và như thế cõi Phật đã hiện tiền! Từ đó mà đã có thể “từ nhãn thị chúng sanh”, nhìn chúng sanh với con mắt đầy yêu thương, thấu cảm, bởi cõi Phật đó ai cũng sẵn có, chỉ vì không thấy biết mà “luân hồi sanh tử” mãi miết đó thôi!
 
Buổi mai hôm đó, Phật vừa rời khỏi tịnh thất sau ba tháng an cư kiết hạ, đưa mắt nhìn các đệ tử mình nghiêm trang tu tập, người ngồi dưới gốc cây, người ngồi trên tảng đá, tất cả đều tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác, tất cả đều sống một đời sống đạm bạc, kham nhẫn, tri túc đúng như lời Phật dạy, ngài rất hài lòng. Đa số các vị này đã là A-la-hán, đã tròn đầy phạm hạnh, đã đặt gánh nặng xuống và đã… vô sinh, không trở lại cõi Ta-bà ô trược này nữa. Một số vị Bồ-tát lớn thì đang rày đây mai đó, bươn chãi nơi này nơi kia, thuyết giảng cho chúng sanh con đường giải thoát còn số Bồ-tát nhỏ mới tu thì đang quét lá, dọn dẹp chỗ trú sau mùa mưa bão.
Nơi Phật an cư kiết hạ mùa này không xa thành Tỳ-da-ly dưới kia, một thành phố lớn, một đô thị giàu có, dân cư đông đúc, nơi chúng sanh người thì nheo nhóc lặn ngụp trong bao nỗi lo toan, sợ hãi, ốm đau, già nua bệnh hoạn…, người thì trọc phú  huênh hoang, nứt đố đổ vách, lặn ngụp trong cảnh xa hoa, lên xe xuống ngựa, kẻ hầu người hạ, bên cạnh là các vương tôn công tử áo gấm quần hoa ăn chơi trác táng, tửu điếm trà đình, và rất nhiều thanh lâu sang trọng với những cô kỹ nữ khuynh thành đón người cửa trước rước người cửa sau và rượu, và thuốc gây nghiện tràn lan; bên cạnh đó là những bậc trí giả ngày đêm tranh luận không ngừng về những triết thuyết cao siêu huyền bí, giải thích mọi hiện tượng của vũ trụ và loài người, ai cũng cho mình đúng nhất hay nhất. Nơi thành Tỳ-da-ly đó không ít kẻ vì tranh ngôi đoạt vị mà tay không ngần ngại nhúng máu nhúng chàm, gây oán chuốc thù, chiếm đất giành dân không ngớt…
Thành Tỳ-da-ly rực rỡ ánh đèn dưới kia khiến Phật thấy đã đến lúc phải thay đổi cách tiếp cận mới mong giải thoát được chúng sinh. Làm sao mà các vị A-la-hán, các vị Bồ-tát đạo cao đức trọng đã xuất gia theo Phật bấy nay đang tĩnh tọa xung quanh Phật bây giờ lại có thể tiếp cận được với các bậc vương tôn công tử, với các quan chức, với các nhà buôn dưới kia? Làm sao mà các vị A-la-hán, các vị Bồ-tát đạo cao đức trọng đã xuất gia theo Phật bấy nay tiếp cận được với các cô nàng kỷ nữ nhan sắc kiêu kỳ ở các thanh lâu trà đình tửu điếm dưới kia? Làm sao mà các vị A-la-hán, các vị Bồ-tát đạo cao đức trọng lại có thể vào tận các ổ mại dâm, động ma túy sa đọa dưới kia để thuyết giảng lời Phật? Nhớ lại có lần một đệ tử đi khất thực suýt nữa thì rơi vào tay một kỹ nữ, Phật không khỏi băn khoăn. Ai đây có thể tiếp cận được? Cách nào đây có thể tiếp cận được? Ai đây sẵn lòng xâm nhập vào chốn bùn nhơ mà đủ năng lực giúp đỡ, hỗ trợ người khác vượt qua, không chỉ với những lời khuyên suông, lý thuyết trên mây, cao ngạo và xa cách, mà từ những thực tế của cuộc sống vì Phật đạo không xa cách thế gian, Phật đạo ở ngay trong lòng thế gian. Làm sao cho những cánh sen xanh biếc mọc lên từ chốn bùn nhơ?
Phật là một nhà sư phạm tuyệt vời, thường dùng phương pháp giáo dục chủ động, dựa vào đối tượng đích mà thuyết giảng, thế mà cũng có lúc hằng mấy ngàn thính chúng đã bỏ đi vì không thể tin, không thể  hiểu được điều Phật dạy. Người ta không dễ tin có viên ngọc trong chéo áo kẻ bần cùng, không thể tin Đề-bà-đạt-đa, một người phạm tội vô gián như thế được Phật thọ ký thành Phật mai sau.
 
Cách tốt nhất để tiếp cận ở đây là phương pháp “tiếp cận dựa vào cộng đồng” (Community-based approach). Cộng đồng Tỳ-da-ly có những đặc thù của nó, phải tiếp cận dựa vào nó, tự trong nó. Không thể đưa các vị A-la-hán đạo cao đức trọng, phạm hạnh tròn đầy, đến thuyết phục được các bậc vương tôn công tử, doanh nhân thành đạt, các cô kỹ nữ lầu xanh… Không thể đưa các vị Bồ-tát trí huệ thâm sâu đến thuyết phục các bậc vương tôn công tử, doanh nhân thành đạt, các cô kỹ nữ lầu xanh… về nhất thiết duy tâm, vô thường vô ngã, thực tướng vô tướng…! Phải có người tại chỗ. Phải từ bùn mà sen mọc lên. Có lần các vị Bồ-tát phương xa đến cõi Ta-bà tình nguyện giúp Phật một tay, Phật từ chối và ngay lúc đó đã có vô số các Bồ-tát “tùng điạ dũng xuất”, tại chỗ, từ đất vọt lên, sẵn sàng lãnh trách nhiệm. Phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng này đòi hỏi phải có sự tham gia của cộng đồng (community involvement), và có kỹ thuật học thích hợp (appropriate technology)… mới thành công. Không có sự tham gia của cộng đồng, không sử dụng kỹ thuật học thích hợp… thì các phương pháp dù hay cách mấy mà áp đặt, xa lạ, cũng trở nên vô ích, thui chột vì không hợp “thổ ngơi”!
Đối tượng đích (target population) lần này là năm trăm con nhà trưởng giả, trẻ tuổi, vương tôn công tử, đại gia, doanh nhân, trí thức của thành Tỳ-da-ly. Tất cả họ đều đã phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề (Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác) … nhưng chưa biết cách phải thực hành thế nào vì họ không thể xuất gia như các vị Bồ-tát kia.
Vấn đề là làm thế nào để các vị trưởng giả trẻ tuổi, doanh nhân, trí thức… này có thể trở thành Bồ-tát ngay tại cộng đồng của họ mà không cần phải cắt tóc, đầu tròn áo vuông  của một vị sa môn?
Thực ra buổi thuyết giảng đặc biệt hôm nay của Phật tại Vườn Xoài không chỉ dành cho “đối tượng đích” nói trên mà chủ yếu còn dành cho tất cả các vị A-la-hán, Bồ-tát cùng các đệ tử gần xa của Phật, để chính họ tự nhìn lại chính mình và cũng phải tự thay đổi. Bởi thay đổi “cái nhìn” vốn là một sự thay đổi không hề dễ dàng! Phật muốn giới thiệu một phương pháp tiếp cận mới, tiếp cận dựa vào cộng đồng qua một “mô hình” Bồ-tát mới, “Bồ tát tại gia”, qua hình tượng một nhân vật kiệt xuất Duy-ma-cật ở ngay trong thành Tỳ-Da-Ly vậy.
Cho nên lần này đến Vườn Xoài của Am-ba-pa-li có đến tám ngàn Đại Tỳ-kheo, ba mươi hai ngàn vị Bồ-tát, mười ngàn Phạm Thiên Vương, mười hai ngàn vị thiên đế, chư thiên, long thần, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, thảy đều đến ngồi nơi pháp hội. Có đủ các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di.
 
Trong thành Tỳ-da-ly có một chàng con nhà trưởng giả, tên là Bảo Tích, cùng năm trăm chàng con nhà trưởng giả khác, thảy đều cầm những lọng bảy báu,  đến nơi Phật ngự, đầu và mặt làm lễ sát chân Phật. Mỗi chàng đều đem lọng của mình mà cúng dường Phật. Oai thần của Phật khiến cho các lọng báu hiệp thành một cái lọng duy nhất, che trùm cả thế giới tam thiên đại thiên.
Năm trăm vị vương tôn công tử, trí thức, doanh nhân… của Tỳ-da-ly đến diện kiến Phật, ai nấy đều trình bày cái hay cái giỏi của mình, cái “logo” với cờ xí oai hùng của mình nhưng Phật đã  tức khắc “khiến cho các lọng báu hiệp thành một cái lọng duy nhất”. Bởi không có gì chia chẽ ở đây. Bình đẳng tuyệt đối. Buổi thuyết giảng này là về một mô hình mới: Bồ-tát tại gia Duy-ma-cật với Pháp môn Bất Nhị, Bất khả tư nghì!
Bảo Tích thưa: ”Bạch Thế Tôn! Năm trăm chàng con nhà trưởng giả đây, thảy đều đã phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, nay muốn nghe việc được quốc độ thanh tịnh của Phật. Xin đức Thế Tôn giảng thuyết các hạnh tịnh độ của chư Bồ-tát.”
Phật dạy: “Lành thay, Bảo Tích! Ông đã vì chư Bồ-tát hỏi Như Lai về hạnh tịnh độ. Hãy lắng nghe, lắng nghe! Hãy suy nghĩ cho kỹ. Ta sẽ vì ông mà giảng thuyết.”

“Các loài chúng sinh là cõi Phật của Bồ-tát. Tại sao vậy? Bồ-tát tùy theo chỗ giáo hóa chúng sinh mà giữ lấy cõi Phật. Tùy theo chỗ điều phục chúng sinh mà giữ lấy cõi Phật. Tùy các chúng sinh muốn dùng cõi nước nào để vào trí huệ Phật mà giữ lấy cõi Phật. Tùy các chúng sinh muốn dùng cõi nước nào để phát khởi căn Bồ-tát mà giữ lấy cõi Phật. Tại sao vậy? Bồ-tát giữ lấy cõi nước thanh tịnh là vì muốn làm lợi ích cho chúng sinh.  Nhưng nếu muốn xây cất nơi hư không thì không thể được. Bồ-tát cũng vậy, vì muốn giúp cho chúng sinh được thành tựu, cho nên nguyện giữ lấy cõi Phật. Việc nguyện giữ lấy cõi Phật đó, chẳng phải là việc xây cất nơi hư không.”.
“Bảo Tích! Bồ Tát tùy lòng ngay thẳng (trực tâm) mà khởi làm. Tùy chỗ khởi làm mà được lòng sâu vững (thâm tâm). Tùy lòng sâu vững mà tâm ý được điều phục. Tùy chỗ điều phục tâm ý mà làm được theo đúng như thuyết dạy. Tùy chỗ làm theo đúng như thuyết dạy mà có thể hồi hướng. Tùy chỗ hồi hướng mà có sức phương tiện. Tùy sức phương tiện mà giúp cho chúng sinh được thành tựu. Tùy chỗ thành tựu cho chúng sinh mà được cõi Phật thanh tịnh. Tùy cõi Phật thanh tịnh mà thuyết pháp thanh tịnh. Tùy chỗ thuyết pháp thanh tịnh mà trí huệ được thanh tịnh. Tùy trí huệ thanh tịnh mà tâm được thanh tịnh. Tùy tâm được thanh tịnh mà tất cả công đức đều thanh tịnh. Bảo Tích! Cho nên, nếu Bồ-tát muốn được cõi nước thanh tịnh hãy làm cho tâm thanh tịnh. Tùy tâm thanh tịnh, ắt cõi Phật thanh tịnh”.
“Muốn được cõi nước thanh tịnh hãy làm cho tâm thanh tịnh. Tùy tâm thanh tịnh, ắt cõi Phật thanh tịnh”.
Cho nên, cõi Phật đâu xa đó vậy!
 
Đỗ Hồng Ngọc
(4.2015)

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6138
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bài gửi  phannguyenquoctu on Sat Sep 10, 2016 8:33 pm

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc



Vài nét tiểu sử Ngu Í NGUYỄN – HỮU – NGƯ
Posted: 25 Aug 2016 10:53 PM PDT
Ghi chú: Gần đây nhiều bạn đọc quan tâm đến các bài viết về Nhà văn, nhà báo Nguiễn Ngu Í, đặc biệt với tập “…QÊ HƯƠNG…” qua lời Giới thiệu của Nguyễn Hiến Lê (Ông Lê gọi là một “kỳ thư”- www.dohongngoc.com) nên nay xin ghi vài nét Tiểu sử Nguyễn Hữu Ngư, do chính ông cho in trên trang bìa 2 và 3 của cuốn QÊ HƯƠNG (1969) để giúp thêm tự liệu cho bạn đọc gần xa quý mến nhà văn, nhà báo Nguiễn Ngu Í.
Do lối viết của ông khá đặc biệt, nên tôi đã chỉnh sửa cho dễ đọc: thí dụ ông viết Nam cì tuần báo, thư cí, diễn cịch, cêu gọi, cí giả… tất cả các chữ “k” ông đều thay bằng chữ “c”, và một số chữ khác nữa, như chữ “p” thành “b” (Tân Fong Hiệb)… sẽ có dịp đề cập sau.
Ngay cả tác phẩm “Sống và viết với…” nổi tiếng của ông, phỏng vấn các văn nghệ sĩ cũng bị viết nhầm thành “Sống vô vi…” (một bài báo) hay “Sống và chết…” (Wikipedia).
Đỗ Hồng Ngọc.
(Saigon 8.2016)
 
Vài nét tiểu sử Ngu Í NGUYỄN – HỮU – NGƯ
bút hiệu Nguiễn-Ngu-Í – Ngê-Bá-Lí – Tân-Fong-Hiệb
 Sanh ngày 20-4-1921 tại làng Tam-tân huyện Hàm-tân tỉnh Bình Thuận, cha là Nguyễn Hữu Hoàn, vốn người Hà-tĩnh. Thất bại trong phong trào chống sưu thuế ở Nam-Ngãi, vô Nam-Trung lập gia đình ở một làng chậm tiến, dạy học và gieo mầm dân chủ dân tộc và mở mang dân trí. Mẹ là Nghê thị Mỹ người Tam-Tân, thuộc một gia đình trung lưu thấm nhuần Nho giáo.
Học trường Trung học Trương Vĩnh Ký (Pétrus Ký), được thầy Việt văn là Phạm Thiều khuyến khích và nâng đỡ, sau đó được người đàn anh là Trúc Hà chỉ dẫn thêm. Lúc học, kết thân với Trần văn Khê và sau đó với Nguyễn Mỹ Ca, Lưu Hữu Phước, Huỳnh văn Tiểng, Mai văn Bộ, Nguyễn văn Trung (Yã Hạc).

Phụ với các bạn sinh viên trong việc truyền bá những bài hát lịch sử và thanh niên của Lưu Hữu Phước, phong trào truyền bá vệ sinh và tân y học, phong trào học sinh và phong trào thanh niên (1941-1945):
Cộng tác với Nam kỳ tuần báo của cụ Hồ Biểu Chánh (1942) rồi làm phụ tá thư kýí tòa soạn kiêm thầy cò tuần báo “Thanh niên” do Huỳnh Tấn Phát rồi Mai văn Bộ điều khiển (1943-1944).
Dự vào cuộc thành lập hội truyền bá quốc ngữ Nam kỳ (phó thư ký) và thời chớm nở của Thanh niên tiền phong.
Tháng tám năm 1945, làm tổng thư ký đầu tiên của Ủy ban Nhân dân cách mạng xã nhà, bị cách chức và an trí.
Năm 1946, ở trong Ủy ban ủng hộ kháng chiến Phú-Yên, dẫn dắt tiểu đội thiếu sinh diễn kịch và hô hào cêu gọi đồng bào ủng hộ kháng chiến ở vùng La-hai. Rồi ra Hà-nội, giúp việc ở phòng Thiếu nhi toàn quốc, do Lưu Hữu Phước phụ trách.
Cuối năm 1946, giúp việc ở đài phát thanh Tiếng nói miền Nam nước Việt nam, tại chiến khu Tây sơn ở Quảng Ngãi do Nguyễn văn Nguyễn và Huỳnh văn Tiểng điều khiển.
Ở trong bạn soạn sách nhi đồng (với Phan Huỳnh Điểu) của nhà xuất bản và nhà sách Hoa-niên, do Nguyễn Biên sáng lập với Trần Hoàng, Vũ Bão, Bùi Đặng Hà Phan…
Bị an trí 2 lần vì tội “hành động, nói năng có phương hại đến cuộc Kháng chiến (1947-1950).
1952, cùng vợ hồi cư về Sài-gòn, dạy học tư ở các trường LÊ BÁ CANG, TÂN DÂN, LÊ VĂN HAI, CẤP TIẾN, TÂN THỊNH (Sài-gòn), TÂN PHƯƠNG (Gia-Định), TRƯƠNG VĂN TRÁNG (Cần Đước), MINH ĐỨC (Trảng Bàng), J.J ROUSSEAU, SAINT – EXUPÉRY, rồi MINH HƯNG, NGUYỄN CÔNG TRỨ, phụ trách các môn Việt, Hán, Sử-Địa, Pháp-văn và Công-dân.
Biên tập viên nhật báo Phương Đông (Hồ Hữu Tường: chủ nhiệm, Lê văn Siêu: chủ bút), phụ trách mục “gia đình văn nghệ”.
Bị bắt cuối năm 1955 cùng một số anh chị em, và bị an trí ở trại cải huấn Tân Hiệp, Biên Hòa.
Viết báo chuyên về các nhân vật phi thường của dân tộc, như Hồ Qúy Lý, Nguyễn Huệ, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… và về phỏng vấn giáo dục thanh niên, nhất là về văn nghệ (văn, học, nhạc) cho tạp chí BÁCH KHOA từ ngày thành lập (1957) cho đến nay (1969). (lúc in tập sách QÊ HƯƠNG).
Đã xuất bản ba quyển sách đề cao tình nghĩa vợ chồng, tình dân tộc: “KHI NGƯỜI CHẾT CÓ MẶT” (tiểu thuyết, 1962), “SỐNG VÀ VIẾT VỚI…” (đàm luận và phỏng vấn, 1966), “HỒ THƠM, NGUYỄN HUỆ – QUANG TRUNG” hay “GIẤC MỘNG LỚN CHƯA THÀNH” (biên khảo, 1967). Sách giáo khoa: “LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP ĐỆ THẤT” ký Phạm Hoàn Mĩ, Le français par la radio (với Pierre Vieillard).
Ở trong các hội KHUYẾN HỌC NAM VIỆT, HỘI TRUNG-VIỆT ÁI HỮU, HỘI CỰU HỌC SINH TRƯỜNG TRƯƠNG VĨNH KÝ, TRUNG TÂM VĂN BÚT VIỆT-NAM, HỘI THÂN HỮU QUẢNG-NGÃI, HỘI KÝ GIẢ ÁI HỮU VN, HỘI BẠN NHỮNG NGƯỜI BỊNH TÂM TRÍ.
Sáng lập và chủ trương bốn nhà xuất bản:
NGÈI XANH (Nguiễn Ngu Í)
VỀ NGUỒN (Fạm Hoàn Mĩ)
NÚI CÚ HÒN BÀ ( Ngê Bá Lí)
KI-GOB-JÓ-CÌ… (Tân-Fong-Hiệb)
 
(Theo “…QÊ HƯƠNG…”, 1969)

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6138
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bài gửi  phannguyenquoctu on Sat Sep 10, 2016 8:47 pm

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc


Bs Đỗ Hồng Ngọc với chuyện “tào lao”
Posted: 22 Aug 2016 04:01 AM PDT
Bs Đỗ Hồng Ngọc với chuyện “tào lao”
Nguyễn Quang Chơn (Đà Nẵng)

Đỗ Hồng Ngọc vẽ bởi Nguyễn Quang Chơn (2015)
Một lần hai anh em rủ đi uống cà phê. Ngồi trên taxi, anh Ngọc bảo ngày mai mình được mời tới hội quán X để nói chuyện “tào lao”. Mình cãi: Sao lại “tào lao”. Em thấy những buổi nói chuyện của anh đều có giá trị, “tào lao” sao được? Anh Ngọc cười: Ừ. Chơn nói cũng phải, nhưng mà dùng từ chi cho đúng đây? (Nhân tiện có bạn đọc nào chọn giùm cho nhé).

Mình cũng không biết phải dùng từ chi hợp/đúng hơn. Nói chuyện đời thì có vẻ to tát quá, không đúng phong cách Đỗ Hồng Ngọc. Nói chuyện sống. Nói chuyện đạo. Nói chuyện chữ nghĩa… Nghĩ cho cùng, cũng không hợp với một bác sĩ nhà văn nhà thơ nhà…Phật học Đỗ Hồng Ngọc. Rồi về nhà ngẫm nghĩ. Anh dùng chữ “tào lao”, mình thấy “xúc phạm” những bài nói của anh. Nhưng, như đức Thích Ca 40 năm truyền đạo, không biết bao nhiêu là kinh sách, là truyền thuyết, là đạo lý, là tư duy ghi lại cho đời nghiền ngẫm. Vậy mà ngài nói: Ta có nói gì đâu. Ta có giảng một câu gì đâu. Vậy thì, ngẫm cho cùng, Đỗ Hồng Ngọc nói: Mình nói tào lao, cũng thật là hay! Tào lao bởi vì trong nhân sinh hiện tại, trong thế giới hỗn mang này, giữa cái thời mạt pháp, mạt nghĩa, mạt tình, bỗng nhiên anh đi nói chuyện cương thường, đạo lý, nghĩa nhân. Chuyện đời với đạo. Chuyện tử với sinh. Chuyện tâm thân an lạc… Đôi khi, có người nghĩ: Thật…tào lao!…

Xã hội ta bây giờ là xã hội đóng khung. Đã được sắp đặt. Đã được nghị quyết. Tất cả đã có người lo. Chỉ một đường đi tới đích. Chỉ có ăn ngon mặc đẹp. Chỉ có tiền bạc danh vọng. Không phải, trái lệch lạc. Không tư duy mông lung. Không đảng phái. Không hội hè … Vậy, tự dưng có người nói đường đến cái ruột già là hạnh phúc. Có người nói buông xả là hạnh phúc. Có người nói well-being, bien-être… là hạnh phúc. Thì…thật tào lao!…
Đang typing mấy chữ về “chuyện tào lao” của Đỗ Hồng Ngọc thì phone reo. Té ra anh gọi. 9:00 giờ tối. Lão “sư thầy” này với mình thật là “thần giao cách cảm”. Anh hỏi: Đang nhậu hả? Dạ. Nhậu xong rồi. Đang làm chi đó? Dạ. Chuẩn bị ngủ (chẳng lẽ lại nói đang viết… tào lao). Rồi anh khen mấy bài thơ mới viết. Rồi anh hỏi bức chân dung Tâm đến đâu rồi. Rồi góp ý cái trán, cái miệng… Thu Vàng. Nói mới ngồi ăn trưa với TTM và DTL… Chúc nhau ngủ ngon.…
Mình typing tiếp!…
Vậy đó. Đỗ Hồng Ngọc đôi khi “tào lao” thật dễ thương. Anh nghiêm túc với mình lắm dẫu anh hay cười. Anh hay “phê” mình chân thật làm mình thích, vì mình biết mình ở đâu trong văn chương chữ nghĩa! Chỉ chưa thấy anh phê mình chuyện uống rượu say hoài (không bác sĩ nào không phê bệnh nhân chuyện này), mà chính anh lại bị mình….phê!…
Số là, đọc anh, học anh. Học thở bụng của anh. Hay thiệt. Mình đã tập đến độ thấy cảm giác OK. Thấy hơi đi vào. Thấy hơi ngưng lại. Thấy hơi đi ra… Mình đã thở được mọi lúc, mọi nơi, trừ lúc bơi giữa biển mỗi sớm mai. Và kết quả là thần thái thư thái. Thân thể OK. Chỉ có cái bụng là bỗng to lên. Minh Tâm suốt ngày kêu réo: Uống cho lắm nên bụng to đùng! Trời. Anh uống mấy mươi năm nay, từ khi chưa quen biết em đến chừ, chứ có phải mới đây đâu. Nếu vì uống mà bụng to, thì bây giờ đã thành ông Di Lặc rồi kia chứ!?
Rồi suy nghĩ, chắc tại… Đỗ Hồng Ngọc. Anh bày thở bụng. Mà anh không dặn phải bỏ uống bia. Mình thở bụng. Mình lại tộng bia vào. Ngày thêm ngày, gần hai năm, cái bụng phải nở dần ra. To là cái chắc!…
Vậy là nhân một lần gặp nhau mình tố khổ với anh, phê anh dạy không đến nơi đến chốn. Anh ậm ừ, nói đã học bác Viện. Phải thở bụng như bác mới vượt bệnh. Mới sống lâu. Thở bụng mới khỏe… Kệ. Anh nói chi anh nói. Mình đang tập thở ngực trở lại. Tập bụng đã khó. Chừ quen rồi. Tập ngực càng khó hơn. Mà phải ráng. Cứ thở ngực để giữ cái bụng nhỏ (cho vợ khỏi nhằn), bởi đâu bỏ được bia. Chứ thở bụng để sống thọ thêm được vài mươi năm mà phải… bỏ bia (bỏ bạn), nếu không, cái bụng to xấu hoắc. Thì, chuyện… tào lao!
(NQC)
20.8.2016
Thân kính tặng anh ĐHN, một cuối tuần vui

*****
Lời bình của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về đoạn thở bụng:
Chỗ này anh Ngọc oan. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, thở bụng 50 năm, bụng xẹp lép. Mấy thiền sư toàn thở bụng, bụng ai cũng xẹp lép. Trái lại, mấy… đại gia, không thở bụng, chỉ uống BIA mà bụng cũng to đùng! NQC là một đại gia, năm nay chừng ngoài 40, là tuổi của bụng BIA đó!

(Nguồn: https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2016/08/21/bac-si-do-hong-ngoc-voi-chuyen-tao-lao/#more-19858)

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6138
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bài gửi  phannguyenquoctu on Sat Sep 10, 2016 9:02 pm

 
Thu Vàng hát tặng nhà thơ Phạm Ngọc Lư
Posted: 10 Aug 2016 03:03 AM PDT
Cùng chị Thu Vàng thăm nhà thơ Phạm Ngọc Lư
Nguyễn Quang Chơn
Bệnh của anh Lư phiền hung. Trong não xuất hiện thêm hai cục u khó chịu. Vậy là bệnh viện quyết định xạ trị. Xạ ngay vào trong mấy cục u trên đầu anh để chúng đừng phát triển, chèn ép não…

Thấy cuộc gọi của chị Thu – Thu Vàng. Chơn có ở ĐN không. Chiều đưa mình đi thăm anh Phạm Ngọc Lư được không? Trời đất. Mới gọi ảnh hôm kia. Biết phòng 919. Biết từ hóa trị chuyển sang xạ trị. Bạn bè xa muốn thăm mà không đưa đi thì đâu phải NQC. Gọi anh Lư. Chiều nay khoảng 3 giờ em và Thu Vàng vào thăm anh đó nhé. Giọng anh sang sảng cười vui!…
Chị Thu. Quen thân từ thuở “ấu thơ”. Chị học trên mình một lớp. Gọi ông anh rể bằng chú. Chị hát hay từ hồi rất nhỏ. Chị ca bài Thu Vàng của Cung Tiến làm nổi danh ở Tam Kỳ trước 1975 và chị bị chết tên “Thu Vàng” từ đó! Bây giờ thì chị “free”. Giang hồ một cây. Ở đâu có văn nghệ, có văn chương là thấy chị. Ông anh đồng hương Đặng Tiến của tôi lâu lâu mới về VN, nói chuyện văn nghệ với bà con cũng thấy chị hát phụ họa. Đặng Tiến tưởng mình không biết Thu Vàng. Tặng một đĩa nhạc và bảo: Ông nói bạn bè tiêu thụ giùm. Cô này hát hay. Hay lắm! Rồi “sư thầy” Đỗ Hồng Ngọc. Cũng thấy gởi hình “đoàn lữ nhạc” có Hoàng Quốc Bảo, Thu Vàng…
Bà này thiệt kỳ tài. Qua Mỹ cũng làm show văn nghệ với bạn bè. Đọc bài Khánh Minh viết đêm nghe Thu Vàng hát đến … rợn người mà tự hào vì mình… quen Thu Vàng!
Đỗ Hồng Ngọc gởi tặng Phạm Ngọc Lư một bó hoa (Thu Vàng chọn lựa, sắp đặt) đẹp, thơm phức! Bước vô phòng. Giật mình khi có một “đồng bệnh” của anh Lư lại là người Tam Kỳ, bạn thân chị ruột mình, anh Thanh, cũng y chang anh Lư. Đã sáu lần hóa trị. Nay sang xạ trị. Đùa giới thiệu Phạm Ngọc Lư với anh Thanh. Ngày xưa ảnh nổi tiếng với Biên Cương Hành. Nay ảnh lận đận với Ung Thư Hành! Cười vui mà lệ ngấn trong khóe mắt!…
Nói qua nói lại. Anh Lư vẫn là người rất khuôn sáo. Anh mời xuống canteen uống nước. (Cái ông thật lạ. Bịnh thì nằm giường bịnh. Cứ có bạn đến thăm lại rủ la cà!). Tôi đề nghị ngồi tại chỗ và xin chị Thu Vàng hát một bài tặng Phạm Ngọc Lư, tặng anh Thanh, chị Quí!…
Tội nghiệp, Thu Vàng đang viêm họng. Ậm ừ một chút rồi cũng hát không đàn không trống. Bài “Tạ Ơn Đời” của nhạc sĩ Phạm Duy. Chị hát. Tôi quay cảnh ghi lời. Hay. Hay thật. Bất ngờ và thân thương. Thu Vàng hát đắm say như muốn qua lời ca cám ơn đời cho chúng ta còn được gặp hôm nay. Tiếng hát, sắc hoa thắm đẫm tình bạn mặn nồng. Anh Phạm Ngọc Lư rưng rưng nước mắt. Anh bảo cho mình nói đôi lời. Những lời ứa lệ cám ơn bè bạn xa gần. Và. Một clip nhỏ, bất ngờ, đã ghi dấu những tình cảm chân thành thân thương của những con người văn nghệ trước 1975. “Tim vang còn giây lát. Hơi run còn thơm ngát. Dương gian còn trong mắt. Nghe tiếng hát chưa nhạt tan…”
Rồi chia tay. Ôi, sao lòng thấy ngậm ngùi!
(Đà Nẵng 8/8/2016)
……………………………………………………………………………………..
Rất cảm ơn Nguyễn Quang Chơn đã thông tin đến bạn bè anh em. Tiếc không mở được clip NQC thực hiện tại chỗ.
Anh DHN đặt lại cái tựa cho gọn vậy nhé.

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6138
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bài gửi  phannguyenquoctu on Wed Sep 14, 2016 12:43 am

”những thằng già nhớ Mẹ”
Posted: 12 Sep 2016 08:19 PM PDT
 

Ghi chú: Vũ Thế Thành ra mắt cuốn những thằng già nhớ Mẹ. Hỏi, tại sao thằng mà không ông? Thành đáp: già cỡ nào đối với mẹ cũng là ”thằng” thôi, nghiã là vẫn cứ là một đứa con nít!
Không biết sao Phương Nam Book lại mời Đỗ Trung Quân, Nguyễn Đông Thức và Đỗ Hồng Ngọc làm ”khách mời đặc biệt” cho buổi ra mắt sách này. Và nhà văn Nguyễn Đông Thức, người con Út của Nữ sĩ Bà Tùng Long làm…MC.
Tôi bèn có bài viết ngắn dưới đây gởi người bạn trẻ, nếu hôm đó người đó có đến dự…

 
GỞI NGƯỜI BẠN TRẺ
 
Người bạn trẻ ơi
Đừng bao giờ như chúng tôi
Những thằng già nhớ mẹ
Hãy nhớ mẹ ngay phút giây này
dù mẹ ở kề bên hay xa xôi
Hãy nhớ mẹ như ngày nào mẹ nắm tay
dắt đến trường trên con đường làng dài và hẹp
Hãy nhớ mẹ như ngày nào chờ mẹ chợ về
lục tung giỏ tìm bánh thơm kẹo ngọt
Và, cũng đừng quên nhớ cha
Cha cõng bạn cho nhìn xa về phía trước
Cha dắt bạn lội suối băng rừng
Cha làm cho gót bạn đỏ như son
Người bạn trẻ ơi
Đừng bao giờ như chúng tôi
Những thằng già nhớ mẹ
Khi cha mẹ đã không còn
Đừng đợi cha mẹ vào viện mới lo toan
Đừng chờ xây mồ cao mả đẹp để tạ ơn
Hãy nhớ mẹ nhớ cha khi chiều hôm nắng xế
Khi những vết nhăn xòe trên khóe mắt
Khi tóc muối tiêu nhường cho tóc bạc
Khi lưng còng mỏi mệt bước chân lê
Xa trời gần đất
Người bạn trẻ ơi
Bạn còn biết bao nỗi lo đời
Danh vọng tiền tài nhan sắc
Bạn còn trăm công ngàn việc
Thiếu ngủ thiếu ăn
Cha mẹ già chờ đó
Chớ băn khoăn
Có chi mà vội
Cho đến một hôm
Người bạn trẻ bây giờ
thành những thằng già nhớ mẹ
Như chúng tôi hôm nay
Rồi con cái bạn lớn lên
Lại trăm công ngàn việc
Lại thiếu ngủ thiếu ăn
Như trái đất vẫn quay
… mải miết!
 
Đỗ Hồng Ngọc
(9.2016)

phannguyenquoctu

Tổng số bài gửi : 6138
Join date : 25/10/2010
Age : 48
Đến từ : Sài Gòn

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bài gửi  Sponsored content Today at 7:14 am


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Trang 4 trong tổng số 4 trang Previous  1, 2, 3, 4

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết